Aller au contenu principal

Một trang trại đầy hoa ở vùng Aisne

16. juillet 2021

Một trang trại đầy hoa ở vùng Aisne – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Hết tháng hai năm 2021 tôi mừng thầm vì nghĩ rằng xuân về sẽ xóa sổ covid, vì đầu tháng ba đúng hẹn các cây đào nở rộ, tiếp đến là các loại cây ăn quả như cây táo, cây mận, cây lê….Nhưng trời chẳng chiều người, bất chợt băng giá mưa gió kéo đến làm cho hoa lá rụng tả tơi, thế là năm nay mất mùa không có trái ăn. Rồi tháng tư qua đi trong mưa gió lạnh lẽo. Tháng năm đến, tháng của mùa cưới thế mà năm nay ỉm ìm im, không thấy cưới xin đâu cả, từ đầu tháng đến cuối tháng tôi chờ đợi nắng ấm chưa trở về. Thở dài. Qua tháng sáu, tháng của hoa hồng, cây đã lên lá ra nụ chờ hoa nở. Thế mà ! Hoa vừa mới nở, mưa đã rơi xuống dầm dề, hoa úng nước trên cành, chết ngủm, rồi gió quật, tội nghiệp đời hoa mau tàn phai hương sắc. Tháng bẩy về, cũng mưa, đến giữa tháng cũng còn mưa gió, các loại hoa mùa hè lạnh quá không nở được, bụi hoa nào nở là may mắn lắm bởi chỗ trồng cho hơi ấm và khô ráo. Bên Pháp đã thế, chính quyền xiết chặt thêm các biện pháp hành chánh quản lý người dân vì covid, bên Bỉ và Đức lụt lội nặng, nhà cửa, xe cộ, người trôi trong nước lũ….Bên nhà báo tin dịch covid hoành hành….Tưởng như không có gì vui….

Bất chợt một lời mời đến thăm nhà của một người chị em họ khiến chúng tôi nhận lời ngay, được lúc cho di chuyển từ vùng này sang vùng kia, tội vạ gì mà chẳng đi, ra khỏi nhà cho đã…Ở tù trong nhà từ tháng ba 2019 đến giờ quẫn chân quẫn cằng, dù nhà mình có êm đềm cách mấy, có đẹp cách mấy đi nữa. Nói là đi từ vùng này sang vùng kia nhưng thực sự chẳng xa là mấy, chỉ khoảng trên 100 cây số, lái xe đi cái vèo là tới.

Vùng Aisne có lối kiến trúc nhà rất đặc biệt, hai nóc nhà như bậc thang, nguyên thủy là để lợp mái nhà bằng rơm rạ, về sau người dân thay bằng lợp ngói như vẫn giữ nguyên hình dạng ban đầu. Khác với thành kiến của một số người, nhà cổ, thường xây bằng đá tảng, kèo cột nóc làm bằng cây tự nhiên, không cứ hôi mùi ẩm mốc, đó là còn tùy việc sưởi ấm nhà, thông khí và sạch sẽ nhà. Nhà của người Pháp thông thường rất sạch sẽ, ngăn nắp, bày biện có mỹ thuật dù nghèo hay giầu tùy từng hoàn cảnh, chứng tỏ người ta rất yêu quý tổ ấm của mình.

Nơi chúng tôi đến thăm hóa ra là một trang trại cổ, chung quanh nhà chính có nhiều kiến trúc như nhà kho, nhà chứa rơm, nhà chứa thóc gạo, nhà chứa xe, hầm, chuồng nuôi bò, ngựa, heo, gà vịt, thỏ…., vườn hoa, vườn cây ăn trái, đồng ruộng…bây giờ chỉ còn là nhà ở và những chứng vật thay đổi theo với thời gian năm tháng. Một sự thăm viếng rất dịu dàng, nên thơ, làm quên đi chuyện thời sự covid. Mời các bạn thăm trang trại cùng chúng tôi, một chút thư giãn trong mùa dịch với nhiều tin trái chiều làm nhức đầu mệt tim, vào một ngày không mưa tuy có mây xám vần vũ. MTT

MTT_1B

Bên cạnh chiếc cổng to, chỗ để xe đã được những bông hoa chào đón

MTT_11B

Ngôi nhà chính của trang trại với mái có bậc thang đặc biệt của vùng Aisne. Bên cạnh lối vào nhà là một chiếc bàn nhỏ với chiếc ghế ngồi nghỉ chân

MTT_13B

Chủ nhà có lẽ có nhiều bạn đến thăm, có bàn nhỏ ngồi chơi ngắm cảnh thơ mộng

MTT_9B

MTT_4B

Một chiếc bàn mời khách bên cạnh tường hoa kim ngân (chèvrefeuille) đang nở rộ thơm ngát

MTT_5B

Một chiếc ghế giữa đám hoa và thảm cỏ mượt mà

MTT_12B

Một bộ xa lông trong căn nhà nhỏ

MTT_3B

Lối vào vườn hoa

MTT_2B

MTT_8B

MTT_6B

Một góc của nhà chứa rơm rạ, bị thủng mái vì cơn mưa đá vừa qua

MTT_7B

Chiếc xe thồ cổ cả trăm năm tuổi

MTT_10B

Khung mái bằng gỗ và thân cây thiên nhiên trải qua bao thời gian vẫn đứng vững….

Ưu việt trong mùa dịch Covid 19

4. juillet 2021

Ưu việt trong mùa dịch Covid 19 – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Có lâm vào cảnh nguy khốn mới biết được tính chất con người và cả xã hội. Xã hội người Việt lóe sáng được tính ưu việt tiềm ẩn của mình những khi bị chao đao. Ưu việt ở chỗ đoàn kết xã hội, tình người chứa chan và được bộc lộ, một người vì mọi người, mọi người vì một người trong mùa dịch Covid. Ai chỉ ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình không có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam. Những bếp ăn 0 đồng, những xe quần áo 0 đồng, những chuyến xe về quê 0 đồng, bánh mì 0 đồng…., những bữa ăn treo trên cây, ngoài lề đường….ai thiếu đến lấy….Sự tự phát, tự động của người giúp đỡ và lòng tự trọng, biết nghĩ đến người cùng cảnh thiếu thốn như mình khiến cho việc tổ chức cứu trợ thêm dễ dàng và có ý nghĩa.

Tôi ngồi đây mà thật là cảm động khi đọc những hàng chữ điện thoại trực tiếp từ trong nước gởi sang báo tin dịch bệnh, cách ly, rồi nghĩ lại thân phận mình ở Pháp không một ai giúp đỡ trong suốt hai năm dịch bệnh đồng thời lại bị chữa trị ung thư, không có thông tin…sống ở làng mà như là sống biệt lập ở một hành tinh xa lạ.

Tôi giật mình sợ hãi cái « máu lạnh » của xã hội Pháp, mặc ai nấy sống, khôn sống dại chết, chỉ có tiền là mua, mua, mua ….và mua, mua vật chất và mua cả « services » (phục dịch), không có gì mà người châu Âu lại không biến thành một nguồn lợi thâu tiền. Nếu có yêu cầu được giúp đỡ, thì phải gọi điện thoại, xin hẹn, lập hồ sơ, trả đầy đủ tiền dịch vụ….từ bữa ăn mang tới nhà, chở đi chợ, chở đi bệnh viện….Xã hội Pháp trong tình trạng hiện nay hoạt động dựa trên sự tổ chức, kiểm soát, tiền và chia rẽ, biệt lập trong nhiều tầng lớp theo phe phái chính trị. Ngay cả trong một gia đình, cha mẹ con cái khác chính kiến với nhau là đã chia rẽ, có vấn đề đụng chạm trên thực tế chung sống.

Trong suốt hai năm dịch bệnh vửa qua, phong tỏa xã hội và giới nghiêm cả ba đợt, mỗi đợt kéo dài mấy tháng tại Pháp, vợ chồng tôi không hề có sự giúp đỡ của một ai, đang trị bệnh ung thư mà tôi vẫn ráng lết đi chợ, nấu ăn, ngó qua ngó lại chỉ có hai vợ chồng. Hàng xóm láng giềng, nhà hành chánh làng….tất cả đều im lặng, im thin thít, mỗi ngày. Hỏi thăm tin tức của tôi, chỉ có một đôi vợ chồng già ở đầu làng. Trải qua hai ba năm như thế, đến bây giờ nhờ biết tin tức những gì xẩy ra bên nhà, tôi mới giật mình thấy sự im lặng đó ở đây bên Pháp quả thật là đáng sợ. Những người làm thuê đến nhà tôi vài lần để ủi đồ, quét nhà lau nhà…., khi tôi trong thời gian hóa trị không có một chút sức lực nào cả, đều diễn tả một sự lạnh lùng vô cảm như rô bốt, không có một chút tình cảm nào, họ làm việc chỉ vì được trả tiền, lại còn than van là lương ít, việc cực nhọc…đến trễ, đi về thì đúng giờ. Khi khỏe, tôi vẫn làm việc nhà không than van là việc cực nhọc cơ mà !

Thành phố của tôi ở bên nhà đang cơn dịch bệnh, đến tâm điểm. Sáng nay vừa mới thức dậy, điện thoại đã báo tin. Cô em bán rau củ quả báo tin chợ đóng cửa sáng qua lúc 7 giờ sáng. Phần bán ngày hôm đó thì có người mua bớt dùm, cho đi một phần và mang về lại nhà một phần những thứ rau củ để được vài ngày ăn dần. Đồ ăn dự trữ trong nhà của cô em thì có mì gói, trứng và gạo cho gia đình bẩy, tám người. Hôm qua, cô em được đi xét nghiệm cả khu phố, không tốn tiền. Cô em thuộc vào thành phần bán lẻ nhỏ nhất ở chợ, không có vốn, không có phương tiện để rao bán qua mạng, rồi thuê xe ôm đem tới cho từng khách hàng. Hình thức như thế, bán lẻ qua mạng, giúp đỡ tiêu thụ, lại làm phát triển công việc cho người nghèo cần tiền sinh sống như chạy xe ôm giao hàng. Bên Pháp không có xe ôm, ở Paris và vài thành phố lớn chỉ có người nghèo phải chạy xe đạp trong mưa gió tuyết rơi để giao hàng. Cô em được xét nghiệm rồi được cho về nhà tự cách ly 14 ngày.

Nỗ lực xét nghiệm từng người dân trong từng khu phố không kể giàu nghèo, có tiền hay không có tiền thật đáng nêu gương. Bên Pháp, thì dân sợ bị xét nghiệm, lại chỉ làm xét nghiệm khi có việc gì bắt buộc như phải vào nhà thương mổ chẳng hạn. Bên Pháp, dân sợ bị đưa vào nhà thương, người già thì bị lọc lựa, coi như là một đi không về, mắc bệnh ở nhà thì chi được chính quyền khuyên uống Doliprane (Paracetamol) để hạ sốt, các thứ thuốc khác có thể giúp thí dụ như ký ninh thì bị cấm triệt để, cấm bán, cấm bác sĩ viết toa theo kế hoạch đã được dự tính của các lobbies dược phẩm kỹ nghệ. 

Một người Pháp đang ở trong nước báo tin về Pháp, ở Việt Nam, hễ quân đội đến nhà đưa đi cách ly là đi, người ấy ngạc nhiên nói thêm, ở bên Pháp thì không thể nào có chuyện như thế. Nhìn những trẻ em sáu bẩy tuổi ngoan ngoãn trước khi bước lên xe còn ngoái lại tạm biệt gia đình để đi cách ly tôi không khỏi xót xa cảm động.

Ngạc nhiên là phải, một quân đội của dân, từ dân mà ra, người dân có tin tưởng được bảo vệ, phải khác một quân đội chuyên nghiệp, được thu nhận và chỉ vì tiền và danh vọng. Người dân Pháp chưa thể quên những người dân Pháp khoác áo vàng bị cảnh sát bắn mù một mắt, đánh bị thương, xịt hơi cay.

Những người chống lại cách ly, sợ bị cách ly, không khai báo có tiếp xúc với F0, bỏ trốn…là những mầm bệnh ẩn giấu làm cho công việc trị dịch bị dai dẳng, kéo dài. Hy vọng là thành phần này không nhiều, nhờ tính tự giác của mỗi người và trước sau gì khi phát bịnh thì cũng lộ ra.

Tôi đọc báo bên nhà hàng ngày, tin tức về bệnh dịch covid trong nhiều tỉnh thành. Nhưng tin tức trên báo có khi thấy đâu xa lạ, có người viết lại phát huy không đúng chỗ, đúng đối tượng, có lẽ vì không có so sánh với tình hình các nước, hình ảnh không có chú thích rõ ràng với chủ đề khiến cho chỉ có người trong cuộc mới thông cảm. Có những thông tin có tính cách « nêu gương » cá nhân điển hình, như những bài báo nói về cô hoa hậu này, cô ca sĩ kia….đi làm việc covid, làm việc từ thiện,,,khiến cho người đọc ở nước ngoài thấy như kể ơn kể công xa lạ, quảng cáo, không muốn bắt chước. Hay những thông tin lập tượng đài kỷ niệm vô cùng hoành tráng, tặng thưởng cầu thủ bóng đá bạc tỷ trong lúc này chỉ gây thêm bối rối hoặc bất mãn.

Bạn bè trong nước kêu gọi quyên giúp thì mới thấy được sự khẩn cấp của tình hình, chung tay cứu đói và những thông tin đến từ người thân cận, bạn bè, người đã từng gặp nhau thì làm nổi da gà, có tác động mạnh.

Cô bạn tôi ở một chung cư trong trung tâm thành phố Hồ Chí Minh kể:  » Ngày thử nhất 3.7 lock thang máy, 11 trưa nghe phường thông báo là ở tầng 12 block B có F0 là nữ. Thế ra vội đi xuống siêu thị gom một số rau củ, thịt cá trước khi bị lock nhưng quên mất nhà chỉ còn 2 kí gạo. Hơn 12 giờ, con trai mới đi làm về, dặn mua thêm gạo, mì và bún…trước khi lên nhà (vì lên nhà là khỏi xuống). Làm như mọi người biết hôm nay nhà mình bị giăng dây hay sao í, mà sáng nay bà chị gọi nói sẽ mua cho mình bò rèm thăn, chị sếp của con dâu gửi đến cho gà vịt, măng dưa cải, nhân viên cũ gửi biếu mấy trái thanh long nhà trồng, cậu em cùng block nói khi nào nhà hết gạo kêu em, em để sẵn dưới xe. Khi thông tin cho các anh chị em, bạn bè, đồng nghiệp, sui gia, ai cũng nói cần gì cứ gọi. Lâu nay gia đình mình cùng cả xã hội đều chung tay giúp đỡ cho những hoàn cảnh khó khăn, nhất là thời Covid, không nghĩ có một ngày mình được đề nghị giúp đỡ nếu cần. Đúng là Covid còn hơn cả giặc. »

Mạng lưới xã hội của một người Việt là gia đình, là anh chị em, là bạn bè, là hàng xóm láng giềng, là đồng nghiệp, là sui gia…những sợi dây tình cảm tưởng là mong manh nhưng thật ra là được kết rất chặt khi có nguy biến. Đó chính là nguồn gốc của một mối đoàn kết không gì phá nổi.

Trong xã hội Pháp, tất cả những sợi dây tình cảm đó đã và đang bị phá vỡ bởi truyền thông đại chúng, cứ đọc báo, nghe đài, xem truyền hình là nhan nhản « anti-…. » , chồng chống vợ, vợ chống chồng, đàn bà chống đàn ông, phe tả chống phe hữu và ngược lại, kẻ « xanh lè » chống nông dân và chống người lái xe cũ, cứ nhân danh mầu xanh là chống đủ thứ có quan hệ mật thiết đến đời sống của người dân từ việc sưởi nhà mùa đông, di chuyển bằng xe hơi cũ, cho đến năng lượng, cho đến nhà nông, người chăn nuôi bò, heo, gà vịt….chống, chống và chống. Vai trò của nhà thờ thiên chúa giáo, tôn giáo chính của người dân Pháp, là một trong những sợi dây liên kết bị làm mờ nhạt.

Những câu châm ngôn như « lá lành đùm lá rách », « một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ », « một miếng khi đói bằng một gói khi no » ….không phải là những từ ngữ sáo rỗng, nó là bài học thuộc lòng, là kim chỉ nam cho lòng biết đoàn kết, bác ái, tương trợ của người Việt. MTT

Một kỷ niệm đẹp, Ngăn cách

19. juin 2021

Một kỷ niệm đẹp, Ngăn cách – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trời buổi trưa tháng tư nóng muốn chảy mỡ, không ai ra đường hay di chuyển, phố xá vắng tanh, chiếc taxi chở vợ chồng tôi chạy chầm chậm hết đường Điện Biên Phủ ra Ngã Ba Hàng Xanh trong nắng ngắt. Mùi nhựa đường bốc lên đầy mũi. Hồi xưa, má tôi cấm không cho đi đâu buổi trưa, trúng nắng là bịnh nặng, bây giờ tôi cũng không biết nghe lời má dạy. Trong một căn nhà ba tầng trong hẻm là studio thâu thanh, ở tầng thượng. Người ở đây không nói là tầng mà là tấm, nhà mấy tấm, ba tấm, bốn tấm…hỏi ra mới biết đó là cách nói của thợ xây nhà, đúc mấy tấm xi măng ? Vào trong nhà tầng dưới mát rượi, lên đến tầng thượng thì nóng hầm hập, tầng này một nửa xây kín có mái, một nửa làm sân để trống trời, nên cái nắng gắt trưa hè hắt vào trong nhà vô tội vạ. Hôm nay các nhạc sĩ đã thâu nhạc nền sẵn nên mới đầu giờ trưa chỉ có anh Thịnh và anh Hậu ở đó. Anh Thịnh cũng không ở lại lâu, chút rồi đi. Anh Hậu đóng cửa ngoài lại, bật máy lạnh lên, Pierre thở ra, ông ấy đẫm mồ hôi, còn tôi thì nói không ra tiếng vì nóng quá. Bởi vậy, studio dành buổi tối để thâu cho ca sĩ chuyên nghiệp còn buổi trưa cho đến chiều là những người ham hát mà chẳng có nghề hát như hạng tôi. Rõ ràng là phân biệt đối xử nhưng phải chịu thua luật chơi thôi, không thì người ta chê là « vịt kiều chảnh ».

Anh Hậu bật máy, tôi bước vào phòng kín để thu, cái phòng lót thảm, tường, vách và cửa dán mút mầu đen, bên trong chỉ có cái micro và một cái giá nhạc, tai nghe. Sau vài giây thử nhạc trong tai nghe, anh Hậu ra dấu bắt đầu thâu. Anh Hậu là người khó tính, rất tiết kiệm lời nói, chỉ yên lặng làm việc của mình. Pierre kiếm chỗ ngồi một góc, không cục cựa. Tôi định thần, thở ra, nhạc dạo đầu nổi lên, rồi cất tiếng hát, nhắm mắt, thả hồn vào một bài hát tình giữa trưa hè oi bức…Anh Hậu đề nghị thâu lại lần thứ hai. Thông thường, lần hát đầu là những cảm xúc tự nhiên, bộc phát, thâu thêm lần thứ hai, mắt mở, là những cảm xúc đã được người hát tự động sửa lại, bớt thật. Tôi ra nghỉ lấy hơi, bỗng thấy một anh bước vào studio, tay xách một cái hộp dài, hóa ra đó là cây đàn violon, anh đến để thâu cho tôi tiếng đàn của anh. Tôi chỉ hát trên nhạc nền, không có phần phụ họa của những nhạc cụ chính. Đến phiên anh thu thanh, nhìn cái dáng dấp như người đi chơi tennis, quần cụt, áo thung polo, đi dép, không ai có thể đoán được anh là một nghệ sĩ đàn violon. Chẳng cần phải vào phòng thu, tiếng đàn được truyền thẳng vào máy, nên anh thảnh thơi đứng giữa phòng thu chơi đàn…dễ và nhẹ như trò chơi. Đến giờ Pierre vẫn thích thú nhớ đến anh. Tiếng đàn day dứt, buồn bã…tô điểm cho bài hát của tôi thêm đậm đà. Anh Hậu bỗng buông ra một câu khen:  » Bài này chị hát hay  » và không muốn thâu thêm thâu lại gì nữa. Chết rồi, mấy bài khác mình hát không hay ?! Mời các bạn nghe bản nhạc « Ngăn cách » của Y Vân qua tiếng hát của Mathilde Tuyết Trần tháng tư năm 2006 với sự phụ họa của các nhạc sĩ Hy Đạt (Violon), Hữu Hậu, Quốc Phúc, Hiền và Dũng, thâu thanh bởi Hữu Hậu.

s5

Mùa hoa Serenga nở

Tháng sáu mùa hoa – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

13. juin 2021

Tháng sáu mùa hoa – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bạn thường hỏi tôi tháng nào đẹp nhất ở Pháp để lên lịch đi du lịch ở Pháp. Mùa xuân thì mưa dầm dề, gió bấc lạnh lẽo, tuy tháng 3 các loài hoa xuân nở rộ nhưng người đến từ xứ nóng e ngại tiết trời ẩm ướt, lạnh lẽo của mùa xuân xứ ôn đới, lại đi du lịch có ít ngày thì uổng phí đi. Hoa đào nở tháng ba, hoa tu líp nở tháng tư, là những tháng còn lạnh, thời tiết thay đổi ngày nắng ngày mưa rất bất chợt.

Những ai chỉ thích Paris thơ mộng, lãng mạn, vĩ đại với những cung điện, đền đài nguy nga, viện bảo tàng…thì đến Paris lúc nào chẳng được. Dưới một góc nhìn cá nhân, Paris với dòng sông Seine lững lờ thì ngày nào cũng là đẹp, con phố, ngõ ngách nào cũng có duyên, nhiều điểm phải đến của một thành phố rộng lớn. Ở Paris cả hai tuần đi chơi không hết, mệt nghỉ. Thời trẻ, khỏi phải nói, tôi rất mê Paris qua khía cạnh văn hóa, kiến trúc của nó. Càng lởn tuổi, càng hiểu biết tôi lại càng thấy Paris xa tôi dần. Đắt đỏ, dơ bẩn, hợm hĩnh, uy quyền, đè nén, chia rẽ, phân biệt đối xử, người giầu kẻ nghèo….những tĩnh từ không mấy đẹp của người ở nhà quê tỉnh nhỏ nhìn vào Paris. Tôi chẳng thích đem tiền vào Paris phung phí nữa. Người Pháp nhà quê có câu diễu:  » Em biết trời mưa mình làm gì không ? Không ! Cứ để cho nó mưa như ở Paris !  » Nói theo kiểu mấy ông bạn già của tôi thì ai hiểu được chết liền !

Đi xuống miền Nam có biển Địa Trung Hải thì ấm hơn vài độ, nhưng biển mùa xuân còn lạnh lắm, không ai dám xuống nước cả hay phơi mình trong nắng. Gió lạnh quất vào người thì bịnh ngay. Biển miền Bắc hay biển Đại Tây dương của Pháp lại càng không muốn đi, vắng lặng, phí tiền vô ích, mỗi năm chỉ được ba tháng hè vui chơi.

Mãi đến tháng sáu thì bạn nên đến Pháp là tháng đẹp nhất trong năm. Tiết trời mát lạnh, sáng sớm khoảng từ 13° trở lên, trưa chiều có thể lên đến trên 25°, ít mưa. Tháng sáu có thể xem là cuối mùa xuân đầu mùa hè, vì bước qua tháng bẩy, tám là hai tháng hè nóng nhất trong năm. Tháng sáu lại là tháng của hoa hồng bên Pháp, tất cả các loại hoa hồng đều nở rộ, nhìn đâu cũng thấy hoa hồng, mùi thơm ngào ngạt. Đồng ruộng ở nhà quê đã thay đổi mầu sắc, từ mầu đất nâu chuyển sang thành thảm xanh đậm của lúa mì, thảm vàng rực của hoa dầu (cây colza), thảm tím đậm của cây gai dầu (cây chanvre), thảm tím nhạt của hoa gai, thảm xanh non của lúa mạch….. Nhìn tới chân trời, những sự thay đổi mầu sắc diễn ra hàng ngày tùy theo độ trồng của ruộng, rất mát mắt. Dọc theo bờ ruộng nổi lên, tô điểm cho mầu sắc của ruộng là những loài hoa dại đỏ, vàng, trắng, tím…lay động theo chiều gió thổi.

Ruộng hoa gai có lẽ là đẹp nhất. cọng gai dài, cao, ẻo lả, mảnh mai uốn mình theo những làn gió thổi qua tạo thành những gợn sóng tím nhạt rất đẹp. Hoa gai lại kén nắng. Nắng gắt thì hoa không nở, nắng ít bóng râm nhiều thì hoa cũng khép. Mà đời hoa gai chỉ kéo dài ba, bốn ngày là tàn. Hoa gai đang nở từ ba hôm nay, vào giữa tháng sáu. Rình được lúc nắng vửa, thường là trưa đến chiều, ra ruộng xem hoa gai nở là một hạnh phúc. Nhưng cứ mỗi lần thăm ruộng hoa gai thì trong một góc nào đó của ký ức tôi lại nhớ về nạn đói ở miền Bắc năm Ất Dậu 1945, Nhật ra lệnh trồng gai thay lúa để phục vụ cho chiến tranh làm cho dân chúng thiếu gạo ăn, chết đói gần 2 triệu người. Thảm cảnh đó những ai đã trải qua thì làm sao mà quên được. Người Pháp gặt hái gai, cuộn thành bó tròn nặng cả tấn, rồi chuyên chở sang Mã Lai để dệt thành sợi rồi lại nhập về châu Âu. Thời đại toàn cầu hóa rất cần nhân công rẻ để cho lợi nhuận đạt mức tối đa !

Bài hát « Nắng chiều » của Lê Trọng Nguyễn tôi hát từ năm 2008 đến nay đã được 13 năm tuổi, có vẻ hợp với khung cảnh làng quê, bài này tôi thâu thanh hai lần cho nên có hai phiên bản khác nhau, xin mời các bạn nghe phiên bản thứ nhất, tôi hát « cứng » với nhịp điệu vui tươi sôi động của ban nhạc với các nhạc sĩ Hữu Hậu (Synthesizer), Quốc Phúc (E-Guitar), Hiền (E-Bass), Dũng (Batterie) để thính giả rủ ra sàn nhẩy…Chúc các bạn vừa xem ảnh hoa chụp trong làng tôi ở, vừa nghe nhạc, tươi vui ra khỏi cơn dịch covid một cách nhẹ nhàng lả lướt. MTT

hoagai1

Ruộng hoa gai, trồng bên hàng cây đoạn ( cây tilleul, Linden tiếng Đức) và hoa mỹ nhân (coquelicots) dại mọc ven ruộng

hoagai2

orges1

Bên lúa mì xanh đậm bên lúa mạch xanh non…

hong2

Đường trong làng rất sạch, hoa hồng trước nhà nở rộ, trời xanh mây trắng….

hong3

Góc nào cũng có hoa và hoa hồng đủ mầu sắc…..

hong5

Vườn nhà quê…

Ngày mẹ sinh ra con – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

31. mai 2021

Ngày mẹ sinh ra con – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Nhà quê bên Pháp vào tháng năm, bên trồng lúa mì thì lên xanh, bên trồng hoa colza thì vàng rực hút mắt…

Ngày mẹ sinh ra con là một ngày đáng nhớ trong đời cho đứa con và cho người mẹ, lẫn người cha trong vai trò phụ. Sợi dây liên kết, cái dây rốn hình như không bao giờ đứt đoạn, nó vẫn hiện hữu dù đã bị cắt đứt và trở nên vô hình. Và dù cho tình cảnh nào bất chợt, con bỏ rơi hay con đem cho, ao ước muốn tìm lại người đã sinh ra mình, hình hài và tính chất, vẫn là một điều thiêng liêng trong suốt cả cuộc đời.

Hồi đó, những năm 40, 50, người ta chỉ vào nhà thương khi….bệnh nặng, tai nạn gần chết. Sanh đẻ không được coi là bệnh tật, do những cô mụ đảm đương. Cô mụ hay bà đỡ đẻ là một nghề nghiệp phổ thông cho những phụ nữ « mát tay » có kinh nghiệm đỡ đẻ trong quá khứ, trong chiến tranh, trong « bất đắc dĩ »…, Đẻ ở nhà bà đẻ, hay đẻ ở nhà mình, đẻ ở ngoài đồng ruộng, đẻ trong cánh rừng, đẻ bên bờ sông…, người mẹ chấp nhận tất cả tình huống, chấp nhận luôn cả cái chết để cho con mình được sống. Mẹ tròn con vuông là nhà có phúc đức bầy mươi đời. Bây giờ, phụ nữ có điều kiện chỉ muốn mổ lôi con ra vì sợ đau đẻ, vì sợ hết đẹp mà không cho con bú sữa mẹ.

Nghĩ đến những đức tính của người mẹ, nổi bật nhất là sự hy sinh của mẹ, rồi đến lòng vị tha, sự cần mẫn suốt đời, những thứ ấy hợp lại là tình yêu của mẹ, là lòng của mẹ…Không có gì đau khổ hơn là người mẹ phải khóc con, không có gì đau khổ hơn là người mẹ đành đoạn phải bỏ con để đi đánh giặc. Chú tôi ra trận tuyến đánh Pháp, vợ chú, giao đứa con mới đẻ cho mẹ tôi, chị nuôi cháu hộ em mai mốt em về, để đi vào bưng biền với chú. Hai vợ chồng ra đi không trở lại, chiến tranh đã nuốt chửng cả hai người. em tôi lớn lên như cái bóng của chúng tôi, lặng lẽ, gọi ba má tôi bằng ba má, chưa bao giờ trông thấy hai người sinh thành ra mình, cũng không biết ngày sinh tháng đẻ của mình, chỉ biết cái tên: Hòa Bình.

Tôi có may mắn nhiều hơn em, được sinh ra trong hoàn cảnh ổn định của gia đình, được cha mẹ yêu thương, nuông chiều, dậy dỗ, cho ăn học. Thói tiểu thư, thói trưởng giả, thói tạch tạch xè (tiểu tư sản)…đó là những điều mà các ông bạn mao ít mao nhiều mắng tôi khi tôi đã ra ngoại quốc du học. Thời ấy, con gái được đi du học không nhiều, đặc biệt lắm, chỗ du học chỉ cho cánh con trai nhà giầu, có thần có thế ra nước ngoài học tập để mà trốn lính, con gái thường chỉ là tiểu thư thượng hạng dân ma ri cu ri mới tụ nhau lại cả đám bên Pháp và Thụy Sĩ. Bọn họ khinh thường tôi, dân trường Việt, nghèo mà ham.

Cuộc đời mới lớn, tự do có rất nhiều hấp dẫn, quên mẹ quên cha. Đến khi tôi có bầu đứa con thứ nhất, lãnh thiên chức làm mẹ, mới hiểu được…một phần của mẹ mình. Năm tháng trôi qua, ngày càng thấm thía cái cảnh khổ « Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư », ngọt bùi cay đắng, nếu cha mẹ tôi biết được từng chi tiết những cảnh đời đau khổ của tôi ?! thì chỉ làm khổ tâm thêm cha mẹ. Tôi có một chị bạn, sống theo những gì cha mẹ muốn, không ở nước ngoài, phải học bác sĩ, lập gia đình với người đàng hoàng có tương lai, bây giờ chị tâm sự là chán nghề và không hạnh phúc, nhưng chị có sức mạnh để đi tiếp. Đằng nào thì cũng khổ nhiều khổ ít, nhưng cũng có những đôi lứa không bị bão táp của cuộc đời làm tổn hại, may mắn hạnh phúc bên nhau suốt đời.

Tình yêu đôi lứa có cái ánh hào quang hấp dẫn của nó, để sinh con cái, để tiếp nối giống nòi. Con gái của mẹ đi tiếp con đường mẹ đã đi qua, hết đời này sang đời khác…Nếu không có vài người phụ nữ bị bắt phải làm nô lệ trên những hòn đảo hẻo lánh, cô đơn giữa biển khơi xa xôi…thì ngày nay không có con người ở đấy, không có một xã hội sinh sống, khai thác và giữ đảo cho một quốc gia. Tre già măng mọc, nỗi vui của đứa con gái ngày xưa là được ngắm nhìn mấy đứa cháu của mình, biết là mình đã trồng người ở đâu đó. Ngoài việc trồng người về hình hài, trồng người về tinh thần, kiến thức cũng là một cách trồng người cho các thế hệ sau.

Lúc nhỏ, ngày sinh nhật là ngày của mình, mình là tâm điểm của mọi sự chiều chuộng, quà cáp, « ăn » sinh nhật. Về già thì ngày sinh nhật là ngày của mẹ mình, ngày mẹ sinh ra mình. Kết thúc một bài tản mạn về ngày mẹ sinh ra con bằng một bài hát với tựa đề « Anh yêu em » tôi thấy thật ra không có gì là lạ, là lô gich, vì tình yêu đôi lứa là thứ tình cảm, thứ hào quang thông thường nhất để cho người con gái lãnh nhiệm vụ làm mẹ một cách tự nhiên nhất của mình, nối tiếp truyền thống cho mình, rộng hơn nữa là cho giống nòi, xã hội.

Có bao giờ bạn ngắm nhìn một đôi chim bồ câu bay vờn cánh, tỏ tình, âu yếm với nhau vào tháng Năm, tháng đẹp nhất trong năm, tháng của cưới hỏi và bắt đầu « sản xuất » ? Để kỷ niệm ngày mẹ sinh ra con tặng bạn bài hát « Anh yêu em », viết lời và tiếng hát Tuyết Trần, nhạc và hòa âm: Phan Trat Quan,  jazzig, thu thanh năm 1986. MTT

senhoTay

Sen hồ Tây Hà Nội nở vào tháng năm 2021 của một bạn gái Hà Nội gửi tặng

Về một bài hát của kỷ niệm: Làng tôi

26. mai 2021

Về một bài hát của kỷ niệm: Làng tôi – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong hành trang khi tôi ra đi du học cách đây đã hơn nửa thế kỷ, tôi nhớ thuộc lòng vài bài hát hay hát ở nhà nghêu ngao, Lòng mẹ, Làng tôi, Bèo dạt mây trôi….Những bài nhạc tình bolero tôi không để ý mấy, thời ấy cho là « nhạc sến », nghe thoáng ngoài tai rồi thôi, vậy mà nó cũng ăn sâu vào tiềm thức của tôi, té ra tôi cũng thuộc nằm lòng nhiều bản nhạc sến vì bị nghe mãi qua đài phát thanh.

Ba bản nhạc ấy tôi thu thanh lần đầu tiên vào đầu năm 1984 với nghệ danh Mai Thi, cùng sự hợp tác của nhạc sĩ Phan Trat Quan, người soạn hòa âm và đệm đàn ghi ta theo phong cách châu Âu cho tôi hát. Bài hát Làng tôi đặc biệt được hòa âm vào năm 1983 với một sự thôi thúc của tiếng kèn tiến quân, nhắc nhở lại khung cảnh chiến tranh của cuộc chiến chống thực dân Pháp và tiếng bass thật trầm làm nền cho khung cảnh súng đạn của chiến trường. Tuy về phần kỹ thuật thâu thanh không được hoàn thiện cho lắm, nhưng mời các bạn nghe lại bản nhạc Làng tôi (©Mathilde Tuyết Trần/Phan Trat Quan) qua tiếng hát nghiệp dư của tôi của kỷ niệm xa xưa.

Sau đó, chỉ được vài năm thì con đường ca hát của tôi tắt ngủm vì nhạc của tôi quá chọn lọc, quá Jazz, quá kén người nghe, không đi vào thị hiếu của người Việt ở Pháp và hải ngoại khi ấy, thính giả cho là lạ tai, không chuộng. Tôi bỏ hát, tập trung vào việc học cho ra trường…. bằng tiếng Đức. Mặc dù hoàn toàn không nói tiếng Việt trong gia đình mà nói tiếng Pháp với chồng con, khi đi làm lại sử dụng hoàn toàn tiếng Đức, cũng như ít tiếp xúc với bạn bè người Việt, nhờ vào việc hát và đọc tiếng Việt, trải qua bao thời gian năm tháng tôi vẫn giữ được tiếng Việt một cách lưu loát.

Thời gian qua đi….Bây giờ nhờ có mạng Internet, tôi mới biết được là bài hát lòng của tôi ngày xưa, bản nhạc Làng tôi của nhạc sĩ Chung Quân, được sáng tác năm 1952, năm sinh của tôi. Bản nhạc này đã chiến thắng cuộc thi sáng tác với đề tài nói về quê hương và con người Việt Nam của một….gánh hát cải lương xuất thân từ miền Bắc: Kim Chung, của ông bầu Long (Trần Viết Long, nghệ danh Trần Lang).

Chung Quân khi ấy mới 16 tuổi, còn là vô danh, tên thật là Nguyễn Đức Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Bài hát được dùng làm một trong những bản nhạc nền của phim Kiếp Hoa, phim điện ảnh tiếng Việt đầu tiên có lồng tiếng. Những bản nhạc khác trong phim đều trở thành những nhạc phẩm nổi tiếng trong nền âm nhạc Việt Nam mang phong cách lãng mạn cổ điển trước chiến tranh chống Pháp : Dư âm cùa Nguyễn văn Tý, Nhạc đường xa của Phạm Duy Nhượng, Giọt mưa thu của Đặng Thế Phong và Cây đàn bỏ quên của Phạm Duy. Đạo diễn của phim là ông Doãn Hải Thanh, vai chính do các nghệ sĩ cải lương Kim Chung, Kim Xuân, Trần Quang Tứ, Ngọc Toàn, Tuấn Sửu đảm nhiệm, ngoại cảnh được quay tại Hà Nội đầu thập niên 1950. Phim Kiếp Hoa được trình chiếu lần đẩu tiên tại rạp Đại Nam Hà Nội từ năm 1954.

Báo Tuổi Trẻ ngày 25.05.2018 viết lại:

 » Ngày phim ra rạp Đại Nam và Bắc Đô, khán giả Hà Nội ùn ùn kéo đến. Đến khi vào Sài Gòn chiếu tại hai rạp Nam Quang, Nam Việt, trẻ con đi « phe vé » nườm nượp. Bộ phim này đã mở đầu cho « nghề » phe vé ở Việt Nam.

Nhưng trận đánh tại Điện Biên Phủ nổ ra năm 1954 khiến ông bầu Kim Chung không thể mạo hiểm làm phim kế tiếp. Sau khi Việt Nam ký hiệp định Genève, vợ chồng ông đã quyết định chuyển một nửa đoàn cải lương Kim Chung vào Sài Gòn. Một nửa đoàn Kim Chung ở lại Hà Nội, do vợ chồng người em là Tiêu Lang và Kim Xuân quán xuyến.

Tất cả đều hi vọng hai năm sau hai đoàn Kim Chung sẽ tái hợp. Nhưng điều đó đã không xảy ra. Vợ chồng ông bầu Trần Viết Long – Kim Chung quyết định di cư sang Pháp.

Ông bà để lại cho vợ chồng người em Tiêu Lang – Kim Xuân và đoàn Kim Chung một nửa gia sản. Ngay cả bộ phim Kiếp hoa cũng được chia đôi, vợ chồng Trần Viết Long – Kim Chung giữ một bản, vợ chồng Tiêu Lang – Kim Xuân giữ một bản. Ngày lên đường sang Pháp, ông bà Trần Viết Long – Kim Chung đã không thể mang theo bộ phim Kiếp hoa (với 11 hộp phim tất cả).

Vợ chồng Tiêu Lang – Kim Xuân ở lại Hà Nội được anh chị giao cho một bản Kiếp hoa. Sau này ông Tiêu Lang đã quyết định tiếp tục khai thác Kiếp Hoa bằng cách đưa cho một người chuyên buôn bán phim đưa đi các rạp chiếu. Nhưng vì dính đến chính trị, người đàn ông này bị khám nhà và bị tịch thu bộ sưu tập phim, trong đó có Kiếp hoa.

Ông Tiêu Lang cho biết: « Đó vừa là rủi ro với cá nhân tôi, nhưng lại là điều may cho bộ phim. Vì thời đó không có điều kiện, tôi có giữ bộ phim cũng sẽ hỏng. Sau khi tịch thu phim, công an đã gửi phim về Viện tư liệu phim, ở đây người ta đã lưu giữ rất cẩn thận.

Năm 1981, anh chị tôi ở Pháp về chơi, Viện tư liệu phim đã mời anh chị tôi và vợ chồng tôi lên xem cuốn phim đó », ông Tiêu Lang bồi hồi nhớ lại. « 

Phim Kiếp Hoa (1954) trên Youtube.

Diễn viên điện ảnh Như Quỳnh trong phim « Đến hẹn lại lên » là con gái của cặp Kim Xuân-Tiêu Lang. Nhạc sĩ Chung Quân sau đó sáng tác thêm nữa, nhưng chỉ có bản nhạc Làng tôi của ông là sống mãi với thời gian. MTT

Đi buôn cái chữ…nghĩa

24. mai 2021

Đi buôn cái chữ…nghĩa ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Chồng tôi thường hay « mắng yêu » tôi rằng là đã học về kinh tế học như tôi mà tôi đi buôn chữ nghĩa thì coi như là thất bại, đại thất bại, xôi hỏng bỏng không ! Quả thực là như thế, từ hai mươi năm nay tôi sống bằng nghề viết lách theo « kinh tế thị trường » nhưng tiền vô thì ít tiền ra thì nhiều, hết cả vốn lại còn lỗ nặng. Tôi chống chế, em cho đời đấy, thế mới là bác ái là yêu người. Anh cười, thế ai yêu em ?!

Khi tôi liệt kê danh sách những khoản tiền chi tiêu cho việc hình thành một cuốn sách thì chồng tôi cũng cười, biết thế mà cũng làm ? rồi ai nuôi ăn nuôi ở cho ? ăn cơm nhà vác tù và hàng xóm à ?

Nói như vậy nhưng anh ấy biết là tôi đam mê lắm, cứ ngồi suốt ngày suốt đêm ở bàn với cái máy tính, gõ phím lóc lóc. Hễ tôi mà buông bút đứng dậy, rủ rê anh ấy chở đi chỗ này chỗ kia, đi tham khảo thì ông chồng tôi như bắt được vàng, mừng lắm vì được cùng vợ đi ra khỏi nhà, hay nhiều khi anh ấy rủ ngược lại tôi, đi chỗ ấy đi, có chuyện này chuyện kia hay lắm…để có dịp chở vợ đi chơi, đi du lịch.

Tôi còn nhớ, cách đây gần hai mươi năm, nhân dịp anh được nghỉ làm hai tuần, tôi rủ anh đi chơi…về Việt Nam. Leo lên máy bay đi, leo lên máy bay về chỉ trong vòng có hai tuần lễ, phí quá, nhưng phải chịu vậy thôi vì công ăn việc làm là trên hết.

Tôi còn tự hào là trung tâm Sài Gòn là như cái túi áo của tôi, nhắm mắt tôi đi đâu cũng trúng. (Bây giờ thì khác lắm rồi, thay đổi lắm rồi). Tôi dắt anh đánh một vòng quanh chợ Bến Thành, về trở lại đường Lê Lợi, xuống đến ngã tư Lê Lợi/Pasteur, chỉ cho anh ấy xem cái góc nước mía/khô bò Viễn Đông người ăn uống đông nghẹt, gần sát Chùa Chà có một chuồng nuôi chim bồ câu rất lớn mà má tôi cấm tôi không cho ra đó, (Chùa Chà phát xôi nếp nước dừa cho mọi người khi họ cúng, tôi và mấy đứa con nít trong xóm Pasteur rủ nhau ra đó xin ăn!), đi ngang rạp Casino, hồi đó còn vẽ hình các tài tử minh tinh màn bạc có cả Jean-Paul Belmondo trên bảng quảng cáo giăng trên cột ngang của rạp, vào hẻm Pasteur ăn tô phở Minh, vòng cửa sau căn nhà cũ thông với hẻm Pasteur của ba má tôi ra phía trước, tới góc Tòa Đô Chánh, bọc một khúc ngắn Lê Thánh Tôn, ra đường Nguyễn Huệ, ngang qua rạp Rex cũ, chỉ cho anh xem thương xá Eden, Nhà hát lớn, ra cột cờ Thủ Ngữ, bến nhà Rồng, dọc bờ sông Sài Gòn xuống xưởng Ba Son, ngang qua Sở Thú, trường Trưng Vương, chỗ hồ bơi Nguyễn Bỉnh Khiêm, rồi thẳng nhắm dinh Độc Lập mà đi, qua Nhà thờ Đức Bà, trường Taberd, Buu điện, công trường Công Xã Paris (nhìn bệ tượng Đức Mẹ, anh ấy bảo đây là bệ tượng Đức giám mục Pigneau de Behaine và hoàng tử Cảnh mà), rồi xuôi đường Công Lý, ngang qua Tòa án và dinh Gia Long, về lại Lê Thánh Tôn…tôi chỉ cho anh xem tận mắt tất cả kỷ niệm của tuổi thơ tôi nằm trong khu vực này…

Chỉ thăm Việt Nam lần đầu tiên được có hai tuần ngắn ngủi nhưng chồng tôi vô cùng hạnh phúc và rất là ấn tượng. Tôi hẹn năm sau hễ có về thì tôi dắt anh đi thăm Điện Biên Phủ, anh ấy nói « về chứ ! ».

Về lại Pháp, bỗng một cuối tuần rảnh rỗi, anh hỏi tôi « Nhà của Bá Đa Lộc ở gần đây. Em muốn đi thì anh chở đi ? ». Tôi tròn xoe mắt nhìn anh không hiểu « Bá Đa Lộc của thế kỷ trước ? », « Ừ, ông giám mục mà em kể đó ! « . Người Pháp có cách nói « à côté », « près d´ici » để chỉ khoảng cách ngắn, như cái địa danh mà anh nói « gần đây » hóa ra là hơn 200 cây số (!) nhưng đối với anh ấy là « gần ».

Thế là chúng tôi lên đường đi đến quê hương của Đức Giám mục Bá Đa Lộc, người đã có mặt trong lịch sử Việt Nam từ thời chúa Nguyễn Phúc Ánh chưa thống nhất giang sơn làm một mối. Kể lể dông dài để cắt nghĩa thời gian bắt đầu tôi đam mê viết về những sự kiện lịch sử mà tôi khám phá ra sự nguyên vẹn trinh trắng của nó, chưa ai viết về nó, những đề tài để tìm tòi, tham khảo và sáng tác.

Và cũng từ đó vợ chồng tôi bắt đầu có tốn kém cho việc viết lách của tôi. Trước hết là tiền di chuyển, tiền đường, tiền khách sạn ở lại một ngày, hai ba ngày…để đi đến những địa điểm tham quan, học hỏi, văn khố…. Chồng tôi hãnh diện khoe với mọi người rằng: « Tôi đã phục dịch vợ tôi qua gần 500.000 cây số đến nay trên đường bộ ! ». Đúng thế, hơn hai mươi năm chúng tôi đã cùng nhau vượt bấy nhiêu đó cây số đường trên đất Pháp, đốt hết một máy xe, phải mua máy khác (cũ) gắn vào.

Song song với tiền di chuyển, là tiền mua tư liệu từ những tờ giấy copy, tạp chí, sách báo….nói chung là ấn phẩm. Mỗi lần tôi tìm ra được một tiệm bán sách cũ, là bảo đảm chồng tôi bước ra với hai túi nặng đầy sách. Giá sách cũ cứ là 5, 10 đến 15 € một quyển, nhưng sách cũ, hiếm thì giá lại khác, trên trời dưới đất. Tôi mua bao nhiêu sách anh ấy cũng không rầy vì anh cũng thích sách.

Rồi máy tính và phụ tùng ! Tôi đã làm việc với máy tính từ năm 1986/87, nên với sự tiến triển, phát minh, chế tạo của thời gian đến nay thì lại càng nhiều hơn lên, nào là máy tính văn phòng, màn hình, hệ thống âm thanh, laptop, ipad, điện thoại di động, máy in, máy scan, ổ cứng….thay đổi máy móc nhiều lần, hai ba cái tủ đựng toàn là những vật liệu cũ còn dùng được, nhưng bị thải ra. Đến bây giờ thì toàn bộ hệ thống của tôi bị coi như là đã cũ, hết hợp thời, nhưng vẫn còn dùng được. Cái bàn phím tôi đang gõ lách cách cũng đã hơn hai mươi năm tuổi. Đó chỉ là nói về phần « cứng », còn về « phần mềm » thì nhiều thay đổi quá, tôi chạy theo cũng không kịp, phải đi xin xỏ, năn nỉ ỉ ôi.

Lại còn phải tính thêm phí tổn cho nhà mạng. Từ khoảng đầu tháng năm năm nay, các quảng cáo dữ tợn, hung hăng xâm chiếm tự động trang mạng của tôi, mà muốn gạt bỏ quảng cáo đi tôi phải tốn thêm tiền ! Nếu không trả tiền, thì họ liệt trang mạng của tôi vào loại « nguy hiểm », người xem trên mạng không nên vào ! Bây giờ vào mạng, trang nào cũng đầy rẫy quảng cáo gạt ra không kịp, nhỡ lướt qua nó một cái là mình đã nhảy vào….

Sau cả năm viết lách sáng tác một mạch một cuốn sách tạm ổn, tôi dần dần làm dàn trang với hình ảnh. Dàn trang cũng mình, sửa bản in cũng mình…tôi làm việc ngày nọ qua ngày kia đến mờ cả mắt vì nhìn màn hình lâu, không nhìn thấy lỗi gõ nữa.

Qua đến giai đoạn đưa đi in ở Pháp, thì hẳn là giá tính bằng euros chắc chắn là cao hơn in ở trong nước. Giá in phụ thuộc vào rất nhiều thứ: chất lượng giấy bìa, chất lượng giấy bên trong, mầu giấy, in trắng/đen hay in mầu, khổ sách, độ dày, cách đóng sách, cắt sách…. Nhà in nhận từ người đặt hàng một phiên bản đã hoàn toàn hoàn thiện, mỗi một yêu cầu thay đổi cần người chuyên nghiệp in ấn « can thiệp » phải được tình thêm tiền bằng giờ phụ trội, 75 euros HT (chưa thuế) cho một giờ. Vì thế tôi phải nhắm mắt cho qua để tiết kiệm tiền vốn khi phát hiện ra trong bản đưa in còn sót vài lỗi sơ ý không nhận ra trong khi đọc sửa bản in. Cộng thêm với giá in là giá giao hàng tận nhà.

Cầm cuốn sách mới tinh khôi, mới ráo mực, còn thơm mùi giấy, mùi mực, lại còn những phí tổn khác để gửi sách đến tay người đọc: bao bì, băng keo, bút viết, phí bưu điện, tiền di chuyển vác sách ra bưu điện. Bạn có thấy thiếu một chi tiết đáng kể không ? Nhân công ! Vì tất cả tôi làm hết, từ A đến Z, nên không có phí tổn nhân công, tôi chỉ bóc lột chính tôi.

Cái công thức của châu Âu, chuỗi dây chuyền về sách « chaine de livre », thì tác giả của tác phẩm hưởng bản quyền từ 8/10/12 %, phí tổn sản xuất in ấn 15-19%, nhà xuất bản 11-20 %, phân phối phát hành 6-10 %, phí kho, vận chuyển, hóa đơn 11-14 %, tiệm bán sách 25-38 % định nghĩa trên giá bán thực sự của cuốn sách (giá euros), áp dụng cho những tác phẩm mà số lượng nó phải là 5.000 cuốn thì mọi người tham gia chuỗi dây chuyền về sách đều có thể sống được, nhất là tác giả với tác phẩm của mình.

Tháng 4 năm 2020 bộ Văn Hóa của Pháp cho biết những con số thống kê mới nhất của năm 2018-2019:

Số tác phẩm mới xuất hiện trong năm 2019 : 68.171 tựa sách

Số lượng sách trung bình được in cho mỗi tác phẩm năm 2018: 4.732 cuốn

Số sách bán được trong năm 2019: 435 triệu cuốn

Số doanh thu trong việc bán sách 2019: 2.670 triệu euros

Số tiền các nhà xuất bản trả cho tác giả trong năm 2018: 467 triệu euros

Số lượng tác giả (đủ mọi ngành nghề) : 101.600 người

Số lượng người đọc trên 15 tuổi ít nhất một cuốn sách in: 91%

Số người lao động trong ngành in ấn, sán xuất trong năm 2015: 13.310 người

Số người lao động trong lãnh vực thương mại, tiệm sách (2015): 10.240 người

Trong số doanh thu thì tiểu thuyết chiếm 22%, kế đến khoa học xã hội nhân văn 15% và du lịch, đời sống chiếm 13%. Thống kê cũng cho biết 30 tác giả hàng đầu và tác phẩm đã bán được từ ít nhất 171.400 cuốn cho đến 1.573.700 cuốn trong năm 2019. Tác giả nghèo nhất bán được khoảng từ 300 đến 400 cuốn sách trong năm.

Con tằm tôi rút ruột nhả tơ xong rồi, làm được một hạt cát phù sa cho đời rồi, thì kiệt sức và….kiệt quệ. Một người anh lớn đi trước rất thân ái viết cho tôi những lời đậm đà chữ nghĩa làm nguồn an ủi và động viên cho tôi:  » Chờ cho đến lúc những người viết lách như chúng ta sống được bằng ngòi bút chắc phải trăm năm nữa. Mình phải sống bằng kinh tế thị trường, còn viết lách thì giống như …, vì có lãi xu nào đâu?  Đối với những người có cái nghiệp thì viết là để trả, để làm công quả, và tồn tại, j’écris donc je suis, nói triết lý cho vui. Viết còn là một sự giải trình, không viết thì không biết đi về đâu. Nếu có ai đọc và chia sẻ thì đó là một “món lợi tinh thần“ và một niềm vui. Nhưng cũng có lúc buồn khi người ta đi trên đường “thấy chân lý mà hững hờ”, nói như nhà thơ Thụy Điển Stromer. Nhưng kệ, phải tiếp tục viết nhé. Nói vui thôi. Em nhớ, viết cuối cùng cũng là hạnh phúc. Tiền em không thể mang theo khi ra đi, nhưng chữ nghĩa thì có, vì đó là tài sản của em. Đó là phần lãi vô hình của em, và cũng là phần an ủi. Có thể cũng là vài hạt phù sa cho đất nước này. » .

Chồng tôi xuống hầm, moi mấy chai rượu cũ mèm, 40 năm cũng có, đem lên ăn mừng thêm một chiến bại kinh tế với tôi khi cuốn sách mới đã ra lò, lại thêm một lần lỗ vốn, thất bại là mẹ thành công mà lị. Nếu không có chồng tôi chống lưng từ hai mươi năm nay thì tôi đã ngủm củ tỉ từ lâu, và lại còn được bạn bè chung thủy cho là hào phóng, vinh dự thay. Phần xác thì anh đã lo chu toàn đầy đủ. Chồng tôi là nhất đời ! MTT

Lòng Mẹ và Ngày của Mẹ

9. mai 2021

Lòng Mẹ và Ngày của Mẹ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Một trong những bản nhạc tôi mang theo trong ký ức lúc rời xa quê hương là bài hát Lòng Mẹ của nhạc sĩ Y Vân, cùng với bài hát Làng Tôi và bài dân ca Bèo dạt mây trôi….Bản nhạc Lòng Mẹ này tôi có dịp thâu thanh năm 1984, lúc tôi mang thai đứa con gái sau cùng, với hòa âm theo phong cách Pháp và tay đàn ghi ta của nhạc sĩ Phan Trat Quan (cha Việt mẹ Pháp), vì thế tôi hát « thẳng » không luyến láy.

Những bà mẹ Gio Linh, những bà mẹ Bàn Cờ, những bà mẹ đội bom đạn, những bà mẹ súng thù dí vào thái dương, những bà mẹ chất độc da cam, những bà mẹ gánh gồng buôn thúng bán bưng….đằng sau một một người đàn ông hay một người đàn bà hy sinh xương máu là có một người mẹ khóc con trong âm thầm lặng lẽ, thậm chí mẹ khóc nhiều lần cạn cả nước mắt…Đó là hình ảnh những bà mẹ tôi đem theo trong hành trang khi tôi ra đi, đất nước còn chìm đắm trong chiến tranh…

Năm tháng qua đi, tuổi già chồng chất. Ngày xưa mẹ hay nói, khi nào con có con thì con sẽ hiểu….Đúng như thế, khi đứa con gái trở thành một người mẹ, thời gian mang bầu chín tháng mười ngày rồi sinh nở trong đau đớn cùng với niềm vui chào đón đứa con mới ra đời, gái hay trai gì cũng quý, miễn là nó khỏe mạnh, bình thường là mừng lắm rồi, đi vào con đường đầy chông gai của mẹ mình đã đi qua…, đó chỉ là mới bắt đầu…Cứ thế, thế hệ này nối tiếp thế hệ kia…những hy sinh, những thiệt thòi từng giờ từng ngày từng tháng từng năm của những người mẹ trên khắp thể giới vẫn chỉ là thầm lặng của bản thân để cho sự sống lên mầm ra hoa kết trái. Nói sao cho đủ, viết sao cho hết. Tôi không giận những người đàn ông chỉ biết vinh danh giới mình, chỉ nói về anh em mình, dẫm đạp lên một nửa thế giới, một nửa loài người, vì may mắn thay còn có những người đàn ông biết nghĩ khác. Sáng nay, chồng tôi nói, ngày nào mà trái đất chỉ còn có một người đàn ông và một người đàn bà là còn sự sống, y hệt như Adam và Eve trong Kinh Thánh xa xưa…

Hôm nay, một ngày xuân nắng ấm rất đẹp trên đất Pháp, sau giờ trưa, chồng tôi hái ngoài vườn cho tôi vài nhánh hoa Flieder mầu tím thẫm vừa mới nở,…tôi mở máy nghe lại bài hát Lòng Mẹ, bài hát để tạ ơn mẹ của tôi, sau gần 40 năm với bụi thời gian. Đứa con gái ngày xưa nay đã lên lão, tháng năm này đã bước vào tuổi 70, mẹ ơi. Tôi vẫn nhớ về mẹ, về ba với tất cả tình yêu thương trong sáng của tuổi 18 ngày nào. Không phải chỉ riêng trong Ngày của Mẹ ở Đức hay ở Pháp. MTT

Sách mới: Vua Duy Tân, Prince d’Annam Vinh San. Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion. ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

9. avril 2021

Ngày phát hành chính thức: 20.04.2021

Đặt sách : info@mttuyet.com

Sách mới: Vua Duy Tân, Prince d’ Annam Vinh San. Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion. ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Về vua Duy Tân, các tác giả tiền bối đã viết nhiều, nhất là giai đoạn trước năm 1916, trước khi vua Duy Tân lên đường đi đày. Các cụ có nhiều lợi thế, vì biết chữ Hán và gửi người ở Pháp, sang Pháp lục lọi trong văn khố, tìm tư liệu rồi dịch ra tiếng Việt, công ấy nhiều lắm. Tôi chỉ có cái lợi thế là tôi thuộc lớp đàn em, lại sống ở Pháp, biết cảnh biết người, đặt những điều mình viết vào hoàn cảnh sống thực tế. Con tôi cũng hỏi, tại sao tôi lại quan tâm đến một ông vua trong quá khứ. Có điều gì đó thôi thúc tôi viết về vua Duy Tân, ngoài những yêu cầu của một vài báo chí trong nước. Sức không đóng góp được kiến thức về khoa học kỹ thuật cho đời, tôi mạo muội viết một cuốn sách theo tinh thần Nguyễn Du « Mua vui cũng được một vài trống canh » để truyền đạt đến độc giả những gì tôi biết về vua Duy Tân, hầu lấp một vài chỗ trống trong cuộc đời ngoại lệ một vị vua triều Nguyễn. Người ta hay nói, phụ nữ hay thiên về tình cảm, tay viết của tôi cũng không thoát khỏi định kiến ấy, sự phán xét cuối cùng tất nhiên là quyền của độc giả.

Kẻ thù và bè bạn

Đặt vua Duy Tân vào vị trí của nhà vua khi đi đày ở vào năm 1916, đầu thế kỷ thứ 20, vào một môi trường hoàn toàn xa lạ, tiếp xúc với người dân bản xứ ! Triều đình nhà Nguyễn đã giáng vua Duy Tân xuống trở lại làm hoàng tử Vĩnh San khi truất phế vua, và nhà vua lên đường đi đày với cái tên: Prince d´Annam Vinh San. Có cơm có canh mà ăn không ? Mối duyên nợ với bà vợ trẻ, tiểu thư con quan, không yêu mà mới cưới có mấy tháng tan vỡ nhanh chóng như bọt xà bông. Rồi bà công chúa Vinh San ấy về Huế, cô gái 17 tuổi đó lên tàu một mình trở về. Duy Tân, 16 tuổi, ở lại một mình, không bao giờ gặp lại. Đang yên ấm trong tháp ngà với kẻ hầu người hạ, chàng thiếu niên 17 tuổi ấy bỗng dưng tất cả phải làm một mình, để sống trong một xã hội thu nhỏ hoàn toàn xa lạ với mình, với tiếng thổ ngữ của người nô lệ créole. Trải nghiệm đó cũng là một nhức nhối, cay đắng trong đời nhà vua, đồng thời có những hậu quả sau này. Các con của vua Duy Tân đều phải mang họ mẹ, vua Duy Tân không được lập hôn thú chính thức với một người phụ nữ nào khác vì bà Mai Thị Vàng chống đối lại yêu cầu ly dị của nhà vua. Mãi đến khi vua Duy Tân tử nạn thì các con mới được phép đổi tên mang họ cha. Nhưng vì không thông hiểu cách đặt tên cầu kỳ của nhà Nguyễn, vua Duy Tân có 4 tên, nên các con vua Duy Tân mang tên húy của vua làm họ: Vinh San, gây ra không ít rắc rối.

Điều làm cho nhà vua, sau một thời gian ở đảo ý thức ra là sự đi đày của mình vô hạn định, tới chết mới kết thúc. Bản án đày ải của triều đình nhà Nguyễn và chính quyền thực dân thuộc địa dành cho hai vua Thành Thái-Duy Tân dần dần bộc lộ sự dã man thâm trần của nó: không một người thân được đi từ Huế sang đảo, không một người thân được từ đảo trở về Huế. Ý thức này làm cho nhà vua vùng lên, xông tả xông hữu, tìm mọi cách để chấm dứt cảnh đi đày cho mình và cho gia đình mình. Xin lấy vợ bản xứ người Pháp, xin nhập quốc tịch Pháp, xin về ở Paris…tất cả những cái „xin“ ấy đều bị bác bỏ, Đời sống nhà vua trên đảo tiếp tục bị theo dõi, lập hồ sơ.

Kẻ thù của vua Duy Tân là ai ?

Cái triều đình An Nam xênh xang áo mũ là một. Những ông quan đại thần chỉ lo cho vinh quang phú quý của chính mình. Cái hội đồng hoàng tộc ở Huế là hai. Tị nạnh, ghen ghét, không ưa gì hai cha con Thành Thái-Duy Tân, sợ vua làm quá thì liên lụy đến cả nhà. Cái chính phủ bảo hộ thuộc địa Pháp là ba, muốn giữ uy quyền và quyền lợi của giới tư bản đang khai thác các mỏ khoáng sản, các đồn điền cao su, trà, cà phê…, các vận chuyển hàng hóa xuất nhập như tơ lụa, gia vị, gỗ quý, trầm hương…tấp nập. Cái bộ Thuộc địa ở Paris nhiều uy quyền là bốn. Cái „phòng nhì“, cơ quan an ninh và tình báo Pháp, nguy hiểm là năm.

Năm kẻ thù nặng kí đè lên số phận đơn thân độc mã của Duy Tân, một „ông vua nhõng nhẽo“ theo lời quan toàn quyền Pháp.

Bộ máy hành chánh đô hộ thuộc địa chỉ hoạt động được khi nó đàn áp, kiểm soát, đè nén các dân tộc bị đô hộ. Các quan thuộc địa, toàn quyền, khâm sứ…đúng là có toàn quyền để đặt những ông vua bù nhìn và một hệ thống cai trị bản xứ làm tấm bình phong để mà cai trị cho dễ dàng. Trong mắt thần dân, những ông vua bị đi đày biệt xứ là những ông vua yêu nước.“

Rồi đến Phan Bội Châu, Trần Cao Vân và Thái Phiên, những chí sĩ anh hùng chống Pháp của lịch sử Việt Nam cũng đẩy vua Duy Tân vào thế kẹt. Không phải là nhà vua không yêu nước. Nhưng chính vì điểm này mà nhà vua tự trói mình nộp mạng, một thiếu niên đang lớn, bị kích động bởi tự ái và danh dự, mặc dù nhà vua đã lượng trước được là mình đang đối mặt với cái chết và thất bại vì lưới của „phòng nhì“ giăng mắc khắp nơi. Tôn Quang Phiệt đã nhận định về cụ Phan Bội Châu:

… Con đường cụ đi là con đường cách mạng, chứ không phải là con đường cải lương, mà đã làm cách mạng thì phải dùng gươm súng diệt kẻ địch, nên người nào còn cầm gươm súng đánh giặc thì cụ còn coi là đồng minh của mình 1, …lập đảng bảo hoàng không đi đến kết quả, cụ chuyển sang chủ nghĩa dân chủ….»2

Và tác giả nhận định:

….Như thế, chẳng qua Phan Bội Châu sử dụng về mặt chính trị vua Duy Tân cũng như một lá bài đồng minh trong một giai đoạn nhất thời. Vua Duy Tân đã thiếu sáng suốt ở điểm này, cuộc khởi nghĩa Thái Phiên và Trần Cao Vân chỉ mời và đưa vua Duy Tân ra làm tấm bình phong, thực sự các ông không còn bảo hoàng nữa, không còn tôn vua, hy sinh vì vua và muốn cứu nền quân chủ nữa, mà đã chuyển hướng tư duy sang một chế độ dân chủ mới mẻ hơn, xa lạ hơn. Mà vua Duy Tân niên thiếu lại thấy mình có bổn phận, trách nhiệm với tiền nhân, muốn đòi uy quyền thực sự làm vua của một nước, không làm bù nhìn, thương yêu đồng bào của mình và không muốn mang tiếng là hèn nhát. Hai bên, vào thời điểm ấy, đồng thuyền nhưng thật ra không đồng mục đích, hiểu lầm tình thế và thời thế, để cùng đi đến thất bại…..“

Vua Duy Tân đã thực lòng hy sinh hạnh phúc riêng, mối tình giữa nhà vua và tiểu thư Hồ Thị Chỉ vì công việc. Lại còn cay đắng hơn, khi biết người mình yêu phải làm vợ vua Khải Định.

Còn những người bạn của vua Duy Tân là ai ? Khi ra đi và đến đảo, nhà vua không có lấy một người bạn. Thủ thế, ít nói và e ngại tất cả. Đó là tâm trạng đầu tiên của vua Duy Tân, nhìn đâu cũng sợ người ta hại mình. Duy Tân sống đơn độc khá lâu. Dần dà Duy Tân có những người bạn cùng trang lứa, làm quen và yêu những cô gái ở đảo. Hãy nghe một người bạn thân trên đảo La Réunion tả tính cách của Duy Tân:

….Với một người đối diện mà ông không quen biết, ông rất kín đáo trong lời nói, nhưng khi ông gặp gỡ bè bạn, thì ông lại là người bạn đồng hành dễ chịu hơn hết cả, ông trở nên vui vẻ hồn nhiên, dễ chịu, hóm hỉnh, vui vẻ cười một câu chuyện cười hay, một cách chơi chữ hài hước hay một trò đùa, ông đã rời khỏi mọi sự ràng buộc, và nếu trong một cuộc trao đổi nghiêm trang, ngôn ngữ của ông vẫn trau chuốt, ngược lại, trong vòng thân mật, ông trút bầu tâm sự một cách tự do, nói chuyện với một sự sỗ sàng nhất định, sử dụng từ ngữ lóng hay tiếng bản xứ, đôi khi tống ra những từ ngữ phẩm chất chính xác và rất rõ ràng, hay đôi khi ông có những phản ảnh rất hài hước (vì ông rất thông minh và rất dí dỏm), nhưng không bao giờ rơi vào sự thô lỗ hay thậm chí dung tục và càng ít hơn nữa là một sự độc ác, luôn luôn tránh làm phật ý hay xúc phạm ai, chạy trốn lời vu khống hay ác khẩu, nhưng luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ và làm vui lòng….”

Và một mái ấm gia đình với bà Fernande Antier, nơi vua Duy Tân tìm sự an ủi và tình yêu thương của các con. Những mất mát vì đói kém, bệnh tật, bão biển, thiếu thuốc men vua Duy Tân cũng đã trải qua bằng sự qua đời quá sớm của bốn người con lần lượt. Vua Duy Tân không hề than van về nỗi đau khổ ấy của một bậc cha mẹ. Người con gái lớn nhất là Suzy và cũng là duy nhất trong lúc vua Duy Tân còn sinh thời được vua đặc biệt yêu thương. Có thể nói, vua Duy Tân là một người cha lý tưởng, nghiêm nghị nhưng giầu tình thương, lo lắng, săn sóc con cái, để ý cả đến những cái “mốt” ăn mặc cho phụ nữ, thậm chí lấy làm tiếc là lương tháng trong quân đội của ông không đủ để mua một cái sắc đầm làm quà cho con gái. Những chi tiết rất thực với đời thường này, làm cho người đọc gần gũi với một vì vua nhà Nguyễn hơn hết cả. Hãy nghe Claude Vĩnh San, con thứ của vua Duy Tân tả khung cảnh sống thường ngày trong gia đình:

… Mẹ tôi cũng như tất cả phụ nữ khác trên đảo, rất yêu mến những khoảng không gian có hoa. Phía trái, gần nhà để xe, mẹ tôi trồng cây thành bục những cây dương xỉ, cây đuôi chồn. Ngay cả dưới mái hiên rộng mở phía trước nhà, là một kiến trúc điển hình của nhà ở đảo, bên cạnh những cái ghế dựa bằng mây, ngự trị trên những cái bàn nhỏ cao là những cây xanh, cây khoai môn và cây đuôi chồn. Tất cả những thứ ấy tạo ra không gian tươi tắn và làm cho căn nhà dễ chịu hơn lên. Trong khoản sân sau, cha tôi cho dựng nên một cái chuồng chim lớn, cũng là nơi nuôi gà, vịt. Còn nhỏ chúng tôi vào cả bên trong chuồng để chơi đùa. Tôi còn nhớ những con rùa đất, chúng dạo chơi trong sân, và các anh em tôi nghịch bắt chúng bỏ vào một cái bồn đựng đầy nước, mà chúng tôi thường tắm trong đó. Ngôi nhà nhỏ thường bị đánh thức dậy từ sáng sớm bởi những tiếng sủa không đúng lúc của Friquette, một con chó bẹc giê đức, giống chó mà cha tôi rất yêu thích… „

Bạn của ông cũng là người cùng chiến đấu trong kháng chiến chống Đức quốc xã với ông. Ông là người đến với quân đội kháng chiến Pháp một cách vô tư, và họ làm chứng cho sự dấn thân của ông:

Trên đảo La Réunion, ngày 18.06.1940, khi hoàng tử Vinh San nghe từ đài BBC giọng nói của một vị tướng đọc lời kêu gọi qua làn sóng điện, câu nói : « Ngọn lửa kháng chiến Pháp không thế dập tắt và sẽ không bao giờ tắt… » đã chạm vào trái tim ông, và ông kêu lên : De Gaulle ? ? Tôi đã nghe cái tên này ở đâu đó…Nhưng bất kể ! Dù cho người ấy có què một chân, phải đi theo ông ấy ! »

Georges Vĩnh San, con trai trưởng của vua Duy Tân, đã bình luận cái quyết định theo kháng chiến Pháp chống lại Đức-Nhật-Ý trong Đại chiến thế giới lần thứ hai như sau:

…Tôi nghĩ rằng, trong suy luận của cha tôi, tướng De Gaulle phải đi vào kháng chiến chống quân Đức quốc xã đang chiếm đóng nước Pháp, cũng như Ngài phải đi vào kháng chiến chống chính quyền thực dân Pháp bảo hộ tại Việt Nam, thì cả hai đều cùng có một chí hướng yêu nước như nhau….“

Hoàng tử Vinh San không ngại sức khỏe, thức đêm ngủ ngày, để „vào trận“ mà không ai bắt buộc ông phải làm. Một người bạn chiến đấu ghi lại:

….Chúng tôi cảm thấy sự theo dõi của cảnh sát trở nên thực sự chặt chẽ, nhất là đối với tôi, với người mật thám gần nhà để xe. Vậy thì đi đâu ? Cả hai chúng tôi đều không muốn đầu hàng bằng cách khóa miệng máy truyền tin của chúng tôi.

Vinh San nghĩ đến cái nghĩa địa ở phía Đông, hướng ra biển. Chúng tôi có thể truyền tin từ một cái huyệt trống. Ý tưởng này tốt. Ban đêm, quả thật, người ta tránh đi thăm nghĩa địa vì mê tín dị đoan hay niềm tin. Chúng tôi suy nghĩ một thời gian về khả năng này. Nhưng chúng tôi phải từ bỏ nó, vì cách nghĩa địa des Volontaires, Salaune đã đặt một gác canh. Và ba cái cổng của nghĩa địa phía Đông đều đóng cổng từ lúc 6 giờ tối bởi người gác nghĩa địa ở ngay phía trước. Nếu muốn xâm nhập, thì phải leo tường cao hơn 2 thước tây. Vào nghĩa địa bằng hướng biển ? Chúng tôi không thể vì gác canh, và hơn nữa, bãi đá thì quá dài từ nhà ga cho đến nghĩa địa. Chúng tôi tìm một giải pháp khác…..“

(Salaune là tên một nhân vật của chính quyền đảo theo Pétain)

Và hoàng tử Vinh San đã đem khả năng truyền tin vô tuyến điện của mình để giúp con tàu Le Léopard đến tiếp thu đảo La Réunion. Sự kiện này khiến hoàng tử Vinh San bị bắt giam ngay lập tức bởi chính quyền theo phe Pétain của đảo, lệnh được ký bởi thống đốc Pierre Aubert, người sau này còn có khả năng và điều kiện để hại hoàng tử. Lòng yêu khoa học kỹ thuật, mơ ước những nhà máy mọc lên trên quê hương, mơ ước sự phát triển của một thành phần nông dân tay cầy tay cuốc trở thành những công nhân xây dựng tổ quốc….và khả năng nhìn thằng vào thực tế làm cho vua Duy Tân có một tầm nhìn khác hằn những vị vua khác của nhà Nguyễn.

„….Nếu hoàng tử Vinh San không nản chí phấn đấu tìm kiếm một lối ra cho mình, nếu hoàng tử chìm đắm trong tuyệt vọng như đã thổ lộ với em là Vĩnh Chương trong một lá thư gửi từ Rottweil bên Đức vào tháng 9 năm 1945, hoàng tử Vinh San còn nêu lên hoàn cảnh sống khó khăn của mình : « Em biết không, trong những năm sau cùng gần đây, anh không thể làm được việc gì cho em, tại vì những ý nghĩ về cái chết của anh mà anh bắt buộc phải làm việc cho những đứa con anh…. » ?

Sự bền bỉ và tấm lòng trong sạch của vua Duy Tân

Viết về vua Duy Tân tôi thấy nổi bật lên hai đức tính: bền bỉ, nhẫn nại, chịu đựng và dù nghèo nhưng không tham vật chất, tiền bạc. Điều rất đáng ngạc nhiên, vì đã là „vua“ thật sự, đã sống trong một khung cảnh hoàng tráng, kẻ hầu người hạ, không hề lo nghĩ đến chuyện cơm áo gạo tiền cho bản thân, „sướng như vua“ chẳng đã là một câu nói thông dụng trong tiếng Việt. Thế mà, trong điều kiện sống với con người, với những đe dọa của thiên nhiên như bệnh tật, bảo biển, thiếu ăn thiếu mặc và những đe dọa từ chính quyền thực dân cai trị đảo, hoàng tử Vinh San đã làm tất cả để kiếm tiền nuôi con: làm nài ngựa ở trường đua, biểu diễn nhạc, sửa chữa máy radio, máy chiếu phim…, làm đồ chơi bằng gỗ, đi câu cá để cải thiện bữa ăn….và dạy con, phải sống bằng chính năng lực của mình.

Không tham tiền, hoàng tử Vinh San đã đánh bật sự chào đón của đám tình báo Anh quốc với 30 triệu quan Pháp để vua Duy Tân từ bỏ ý định trở về quê hương, mà đó lại là hoài bão duy nhất của nhà vua. Vua Duy Tân có phải là lá bài của De Gaulle hay không ? Gia nhập kháng chiến Pháp, theo De Gaulle, hoàng tử Vinh San, một người, là vua của một nước, đã từng đeo Bắc đẩu bội tinh hạng 4 của Pháp, mà chấp nhận nhập ngũ với hạng „binh nhì“ truyền tin. Tướng Lelong vì thăng chức cho hoàng tử lên „chuẩn úy dự bị“ mà bị bộ Thuộc địa Paris khiển trách nặng nề vì tội „lạm dụng chức vụ“ và hăm họa lột lon tướng của ông. Hãy đọc một đoạn mà người đọc cảm thấy xót xa cho thể trạng sức khỏe của nhà vua:

Đến khi xảy ra vụ 1.500 lính Đông Dương ở Cap de Moramanga, cách Tananarive khoảng 100 cây số, nổi loạn, từ chối không chịu phục vụ ai hết dù Anh, dù Pháp, dù theo Pétain hay theo De Gaulle, tướng Lelong nảy ra ý đem hoàng tử Vinh San đi thuyết phục đám lính nổi loạn. Nhưng các sĩ quan đều phá ra cười khi trông thấy một anh hạ sĩ, mảnh khảnh, đầu đội một cái kê pi to quá khổ mà chỉ có hai cái tai nhô ra để giữ lấy nó không rớt xuống vai, mặc bộ quần áo kaki cũng to quá khổ, đôi giầy nhà binh cũng to quá khổ, lại đeo một cái túi dết chéo ngang qua, thật là một người lính quèn, không thể trình diện hoàng tử, cựu hoàng của những người lính già, những hạ sĩ quan Đông Dương như thế được. Tướng Lelong phải phong cho hoàng tử lên chức « aspirant », chuẩn úy tập sự, ngay lập tức, nhưng sau đó ông bị khiển trách nặng nề bởi bộ Thuộc địa vì « lạm dụng » chức vụ và hăm dọa sẽ lột lon ông ! Chuẩn úy Vinh San được một bộ quân phục vừa vặn hơn, đàng hoàng hơn, và ông thuyết phục với tài ăn nói rất điêu luyện được mọi người cảm mến tuân theo lệnh và cầm lại vũ khí vào hàng ngũ.“

Tướng De Gaulle sau đó ký sắc lệnh liên tiếp để thăng trật cho hoàng tử Vinh San, bậc sau cùng trước khi hoàng tử Vinh San tử nạn là cấp bậc thiếu tá chỉ huy.

Một cựu thượng sĩ tên là Lê Duy Lương, thông ngôn cho tiểu đoàn lính thợ O.N.S (không chuyên môn) ở Madagascar, kể lại:

Trong buổi gặp gỡ đầu tiên với Cựu hoàng, tôi có hỏi Ngài như sau: Tại sao Ngài không lập một chính phủ lâm thời để hoạt động cho danh nghĩa Việt Nam ? Ngài đáp: „ Chúng ta không có một tấc sắt trong tay, một đồng tiền trong túi. Trong hoàn cảnh này, chúng ta phải nhờ cậy nước Pháp trước đã. Về phần tôi, tôi không muốn trở lại ngôi báu mà chỉ muốn làm một chiến sĩ mà thôi. Sau này, khi nước nhà đã được giải phóng, đã được độc lập, ai muốn làm vua làm chúa gì, sẽ do quốc dân quyết định bằng bầu cử. “ 3

Người ta thấy lấp lánh thái độ đối xử của một bậc đế vương trong mọi tình huống và dần dần tiến về con đường dân chủ cho đất nước dân tộc. Cuối cùng nhà vua đã đạt được một mục đích của đời mình, với sự trợ giúp của tướng De Gaulle, dù nước Việt vẫn còn trong chế độ bảo hộ thuộc địa Indochine: Pháp phải chấm dứt bản án đi đày biệt xứ vô thời hạn của triều đình An Nam và chính quyền cai trị thuộc địa Đông Dương áp đặt lên cả hai gia đình vua Duy Tân và vua Thành Thái. Và từ năm 1945, cái tên nước Việt Nam được sống lại, không còn bị cấm đoán và chỉ được xử dụng cái tên « Indochine française » nữa.

Và cuộc hội kiến nhiều mong đợi với tướng De Gaulle ngày 14.12.1945 đã đem lại cho vua Duy Tân những gì ? Tất cả mọi kẻ thù của cả hai người đều vểnh tai nghe ngóng. Với một cái quyết định cuối cùng như thế là chuyện tình cờ tai nạn của một chiếc máy bay rơi trên bầu trời Trung Phi ngày 26.12.1945, chỉ mười hai ngày sau cuộc hội kiến. Rồi tướng De Gaulle cũng rời chính quyền ngày 20.01.1946, chưa đầy một tháng sau đó. Cuộc chiến chống Pháp đã bắt đầu và kết thúc bằng trận Điện Biên Phủ năm 1954 và Pháp phải từ bỏ mộng chiếm lại Việt Nam bằng vũ lực, rút hết quân năm 1956, chấm dứt công cuộc viễn chinh đô hộ gần 100 năm.

Là một tản mạn lịch sử, những dòng chữ theo gót chân hoàng tử Vĩnh San đi đày đến đảo 29 năm, sống một cuộc đời „nó làm cho ta đau khổ nhưng không làm cho ta xấu hổ“ rất đúng nghĩa như lời vua Duy Tân nói, nhà vua có niềm vui khi đi vào kháng chiến Pháp chống lại Đức-Nhật-Ý, một cách chống lại sự tiếp quản của quân Nhật trên quê hương, qua đảo Madagascar, đến Paris, đi sang Đức, rồi rớt máy bay ở Cộng hòa Trung Phi, nằm trong lòng đất châu Phi 42 năm sau mới được một mình trở về cố đô Huế an nghỉ ngàn thu…Cái nghiệp của nhà vua quá nặng, nhưng sau vua Tự Đức, vua Duy Tân là vị vua xứng đáng nhất của triều đại nhà Nguyễn. MTT

1Tự phê phán, trang 25

2Tự phê phán, trang 23

3Hồ sơ Duy Tân, Hoàng Trọng Thược

Sách mới: Vua Duy Tân – Prince d´Annam Vinh San, Duyên nghiệp 29 năm lưu đày 1916-1945 trên đảo La Réunion

16. mars 2021

Vua Duy Tân, Prince d´Annam Vinh San – Duyên nghiệp 29 năm lưu đày, 1916-1945, trên đảo La Réunion

Khổ sách A5, 319 trang, tiếng Việt, với 111 hình ảnh

Ngày phát hành: tháng tư năm 2021

ISBN: 978-2-9536096-3-9

Giá 25€

Đặt sách:  info@mttuyet.com

Sách nộp lưu chiểu ở Thư viện Quốc gia Pháp BNF và xuất bản ở Pháp

Từ dạo có mạng Internet dần dà xuất hiện trên truyền thông quốc tế hình ảnh của một vì vua bé con ngập lụt trong bộ mũ áo triều phục lộng lẫy ngày lễ đăng quang của Ngài ở một đất nước xa xôi, ở một thời khắc xa xôi của quá khứ dưới thời Pháp đô hộ để trở về trong trí nhớ và ý thức của nhiều người. Đó là vua Duy Tân trong thời Việt Nam bị Pháp đô hộ.

Vua Duy Tân đăng quang lên ngôi vua lúc 7 tuổi năm 1907, bị truất phế rồi bị Pháp và triều đình An Nam bắt rời khỏi đất nước của Ngài để đi đày ở một hòn đảo chơ vơ giữa biển khơi của Ấn Độ Dương cách Paris 10.000 cây số mang tên La Réunion từ lúc nhà vua mới 16 tuổi, năm 1916.

Hai mươi chín năm sau vào đúng ngày Giáng Sinh 1945 vua Duy Tân, trong bộ quân phục của France-Libre, tử nạn máy bay trên bầu trời Trung Phi trên đường từ Paris về đảo La Réunion thăm gia đình, dự tính trước khi cùng tướng De Gaulle trở về cố hương trễ nhất vào tháng 3 năm 1946.

Để rồi, sau bốn mươi hai năm an nghỉ trên một đất nước Phi châu còn xa lạ hơn nữa, hài cốt vua Duy Tân được bốc lên hồi hương về lại Huế năm 1987. Một mình. Vợ, con lưu lạc ở Pháp và ở đảo La Réunion. Một số phận, một cuộc đời của một vị vua nhà Nguyễn thời cận đại kêu gọi sự tò mò của độc giả và những thế hệ sau.

L´empereur Duy Tan – Prince Vinh San

Le tragique destin de 29 ans d’exil, 1916-1945, sur l´ile de la Réunion

Format A5, 319 pages, texte en Vietnamien, 111 images

ISBN: 978-2-9536096-3-9

Prix 25€

Date de parution : en Avril 2021

Commande : info@mttuyet.com

Depuis longtemps l´image d´un roi-enfant, submergé dans sa robe d’apparat et sa couronne, d´un pays lointain et son passé glorieux, court dans le monde, rappelle les gens curieux de son nom et pose des questions sur la vie et le décès de ce roi: Duy Tan.

Né en 1900 à Hue, fils de l´empereur Thành Thái, couronné empereur à 7 ans, déporté par la France coloniale et par la Cour d´Annam après une révolte avortée, en exil à 16 ans, loin et isolé de son pays, à perpétuité, sur l´île de la Réunion, mourrait dans un accident d´avion à 45 ans. Oublié ensuite 42 ans dans sa tombe à M´Baiki en Afrique Centrale, cet empereur d´Annam, connu depuis sa déportation aussi sous son nom propre de prince : Vinh San, est finalement revenu, seul, sur sa terre natale à Hue en 1987.

Tant de compassion pour la vie d´une personne historique et d´un héros national. Ce livre essaie de tracer sa vie d’exilé sur l´île, sa vie privée, femmes et enfants, son engagement comme résistant, puis soldat de deuxième classe, radio-télégraphiste pour la France-Libre durant la deuxième guerre mondiale, sa sortie d’exil avec l´aide du général De Gaulle, son entretien historique avec le général De Gaulle et sa mort tragique, 14 jours après l´entretien, le 26.12.1945 dans un accident d’avion òu plane un soupçon d’assassinat qui aurait entravé une issue pacifique du conflit indochinois, car gardé longtemps en secret.

Vẽ tranh

3. mars 2021

Triển lãm ở Villers-Cotterêts, cái nôi của ngôn ngữ Pháp hiện đại

Vẽ tranh – Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Nhân cuộc triển lãm ảo, bạn quý thì quan tâm thăm hỏi, gợi cho tôi viết một bài về công việc vẽ tranh. Đó là một „thú tiêu khiển“ khá tốn kém, nếu bạn không sống bằng nghề vẽ tranh.

Cũng còn tùy theo hình thái nghệ thuật: sơn dầu, acrylique, mầu nước, phấn mầu, hay aquarelle, mực tàu, mực dành cho gốm sứ…., và tùy theo vẽ trên gì: giấy bằng coton, bản gỗ, khung căng vải, giấy bản thưởng, gốm sứ ….mà mức độ tốn kém khác nhau. Những nguyên liệu làm bằng thiên nhiên tất nhiên đắt tiền hơn những thứ người ta sản xuất đại trà bằng chất hóa học.

Trước khi vẽ, có người thường thử các hình thái nghệ thuật rồi mới chọn một thứ, có người thì xăm xăm từ đầu biết mình chỉ sử dụng được một, hai loại mà thôi. Tôi là cái đứa tò mò, cái gì cũng thử, má tôi la rầy hoài, cái gì cũng „xía“ vào thì chẳng nên cơm nên cháo gì đâu, một nghề cho giỏi thì mới làm nên sự nghiệp được, cứ coi như cô Bé Ký, chỉ có mực tàu và giấy bản. Má tôi nói thật là đúng, tôi không làm việc gì đến nơi đến chốn, tự trách mình như thế. Trời ơi, có ai có được cái tài thiên phú như Bé Ký, đặt bút xuống là xong ngay một hình vẽ rất đẹp. Tôi nhớ lúc tôi còn nhỏ, cô Bé Ký có khi bán tranh ở đường Lê Lợi, tôi chạy chơi loắng quắng ở phố nhà, ngã tư đầu này là Pasteur/Lê Lợi, đầu kia là Pasteur/Lê Thánh Tôn, một khúc ngắn ngủn là cả một tuổi thơ của tôi, rồi ngồi lê la chồm hổm dưới đường xem tranh của cô không muốn về nhà. Năm 1987 tôi về nhà tìm lại họa sĩ Bé Ký thì bà đã chuyển sang vẽ tranh sơn mài, nhiều bức đẹp bán cả ngàn đô, tôi không có tiền mua, chỉ mua một chục bức mực tàu trên lụa và đặt một tấm tranh mực tàu trên lụa khổ lớn.

Tôi có bà bạn người Pháp, bà cũng chỉ „đụng vô“ aquarelle và bút vẽ, nhưng bà tận dụng nó, biến nó thành nghề nghiệp kiểm tiền. Bà dùng bản vẽ của mình để chụp ảnh vi tính, rồi từ đó bắt ông chồng, một chuyên viên vi tính, sản xuất ra cho bà những sản phẩm như in trên giấy, in trên sành sứ. Bà xây hẳn cái hàng hiên thành xưởng sản xuất: tách, đĩa, thiệp, giấy viết thư…và cái nhà để xe thành chỗ chứa vật dụng. Sau này bà thử nghiệm nhiều lần rồi chuyển sang vẽ tranh acrylique theo yêu cầu của khách hàng. Tôi và cái đấng ông chồng không có can đảm làm như thế chỉ vì mỗi người có ….nhiều sở thích riêng ! Chồng tôi chỉ ham làm những việc nặng như xây nhà, sửa máy xe, lắp ráp xe…cũng toàn là những „thú vui“ tốn kém cả. Anh ấy hì hục suốt mấy năm trời để lắp ráp hoàn chỉnh một chiếc xe jeep của quân đội Pháp, từng con ốc, từng cái bù lon đều mua nguyên bản chính ! Bây giờ, lại thêm một cái máy khác đang chờ đợi được hoàn chỉnh tiếp.

Trở lại chuyện của tôi, thử hết các thứ rồi, tôi mới quyết định chọn cho mình vẽ bằng sơn dầu trên vải. Trước khi vẽ bức tranh đầu tiên, tôi đi mua các thứ. Mua cọ vẽ, vì tôi không thích vẽ bằng „dao vẽ“, thì phải mua nhiều cỡ cọ từ nhỏ tí cho đến to bản, 10 cái không đủ, 20 cái cũng chưa đủ, 30 cái thì vừa đủ…cho đến cả 50 cái cọ ! Mà cọ bằng gì ? Thường là lông heo, cứng…hoặc là lông những con thú khác mềm mại hơn, nhuyễn hơn. Mua mầu, cũng thế. Ở nước ngoài thì kiểu cách pha chế như hồi tôi học ở Việt Nam, pha bột mầu nguyên chất với dầu lin, mất nhiều công sức, chai lọ lỉnh kỉnh, dầu đủ loại, cho nên một thời gian sau, khi đã vẽ hăng, tôi đổi sang mầu ống, đắt tiền hơn nhưng được cái tiện lợi, dễ dàng cho việc sáng tác. Một ống màu nhỏ, tùy theo mầu mà giá cả khác nhau, mầu đỏ làm bằng máu của thú vật là đắt nhất, giá cách đây mấy mươi năm là đã 250 DM một tuýp, các màu xanh là mầu làm từ khoáng sản cũng đắt, mầu tương đối rẻ là mầu làm từ đất, từ nâu đậm đến vàng đất. Nhiều nuances (sắc mầu) được pha sẵn, người vẽ pha, trộn thêm nữa thì đạt được độ tình nhuyễn của mầu sắc cao hơn. Trình độ bảo quản mầu sắc cũng tốt hơn, có hiệu bảo đảm đến hàng trăm năm không đổi mầu, không rạn nứt.

Đến mua khung. Việc này mới khó, vì phải biết cách đóng khung, biết cách căng vải. Khung, căng không đúng cách thì ôi thôi, mỗi góc một cường độ căng khác nhau, cái khung bằng gỗ cứ „vênh“ lên, tháo ra tháo vào mãi mà nó cứ vênh ra, hay chùng lùng bùng ! Tôi tìm ra một ông họa sĩ khó tính, kiêu ngạo nhưng thất thời, lối vẽ tranh của ông không được ưa chuộng, ông bán tranh không được, bèn xoay sang bán vật liệu vẽ tranh kiếm sống. Khung tranh của ông thì tuyệt hảo, các cây gỗ thẳng, không cong, đóng thành khung, vải bố căng lên, vì ông có sức mạnh để kéo vải, đều và phẳng căng. Tôi mê cái cửa hàng nho nhỏ của ông, nhưng đầy ắp vật liệu vẽ tranh lên đến nóc, cứ hai ba ngày tôi lại mò đến đem tiền để dành đến nộp cho ông để đổi lấy mầu, lấy cọ, lấy khung vải….Một cái khung vải theo khổ tôi muốn vẽ, khoảng 50×70 cm giá tròm trèm 100 DM, to hơn thì đắt hơn…

Có khung vải thì phải đặt nó lên cái….giá vẽ. Tôi đi vác về một cái giá vẽ bằng xe Straßenbahn, khỏi phải nói là sức ẻo lả như tôi là phải cố gắng lắm mới vác được nó về nhà, Cái giá bằng gỗ tốn của tôi hết 250 DM, bây giờ là 250 oi rô ! Tôi phải mua hai cái giá để vẽ tranh và để chờ tranh khô. Tôi phải nhịn không lái xe nữa, đi bộ đi làm, để tiền dành cho xăng dầu, sửa chữa, thay bánh xe…làm tiền mua cọ, mua mầu….

Còn về nội dung của tranh ? Mình vẽ đại, muốn ra cái gì thì ra, hay là theo trường phái hội họa đã có: cổ điển, lãng mạn, trừu tượng, hiện thực, siêu hiện thực, ngây thơ…? Thực ra, trong mỗi họa sĩ đều có tiềm ẩn một tài năng, một bản tính nhất định, cây cọ cũng như cây bút có đặc tính riêng tư duy nhất, không thể có người thứ hai (trừ những kẻ giả mạo). Bức tranh cũng như văn vần, le style c’est moi, không ai bắt chước được ai hết. Xem tranh biết người. Những nhà tâm lý học, những nhà nghiên cứu nghệ thuật, lịch sử nghệ thuật…đều có thể viết tràng giang đại hải về một Dali, Magritte, Picasso, Modigliani, Tamara Lempicka, Edward Hopper …..Họa sĩ thì có nhiều như cỏ mùa thu, nhưng họa sĩ nổi tiếng có một trường phái riêng biệt như Van Gogh thì rất hiếm. Nhưng rất thương cảm ông, cả đời ông không bán được bức tranh nào, chết trong nghèo túng và tuyệt vọng. Theo bạn, hãy bình tranh của tôi xem nào nhé, tôi cũng chẳng bán được một bức nào cả ?! Dạo tôi làm ở cơ quan trung ương bảo tàng viện của một thành phố, thấy những cuốn sách to bản, nặng chình chịch hàng mấy kí lô, viết về những bức tranh, đọc không hết chữ.

Tranh vẽ thì phải có chỗ chứa, chỗ treo, dần dà cái phòng tôi chật cứng lại, tôi lại thích vẽ tranh quá khổ, cái nào cũng to cồng kềnh, khó kiếm chỗ cất, chỗ treo. Mỗi lần phải chuyên chở tranh đi đâu là tôi phải thuê xe tải nhỏ để chở. Đã có người hỏi mua, nhưng khi ấy tôi lại không muốn bán tranh của mình, thấy như là đứt từng khúc ruột. Tranh vẽ để bán là loại tranh mà người vẽ hoàn hoàn không có cảm xúc vào trong tranh, chỉ có cái thỏa mãn là mình đã hoàn thành xong một bức tranh và có người mua. Ở trong nước, những người thợ vẽ chuyên nghiệp tại những cửa hàng bán tranh thường hay cho in một tấm hình chụp trên vải rồi vẽ (hoặc tô mầu) chồng lên trên, hoặc chép theo y bản chính lại, khách đặt mua kiểu gì cũng có. Tranh chợ thì lại bán chạy như tôm tươi.

Có một dạo tôi mê mải vẽ trên gốm sứ, nhà lại đầy gạch, bát, đĩa, tách…Xong giai đoạn gốm sứ, tôi lại đam mê thêu tranh….đến nỗi ngón tay cầm kim bị cong queo, thì tôi phải dừng lại. Hễ ngoài trời nắng ấm trong xanh, thì tôi ru rú ở trong nhà vẽ vời đủ cách đủ kiểu vì ánh sáng tự nhiên là ánh sáng cần thiết và tốt nhất cho việc vẽ, các họa sĩ chuyên nghiệp thường có những xưởng vẽ cao, rộng với ánh sáng ban ngày.

Trong một bữa ăn thân mật nhưng khá hoành tráng ở nhà một anh chị bạn quý, tôi được xếp ngồi cạnh nữ nghệ sĩ điện ảnh Trà Giang, lúc đó đầu óc còn lơ mơ màng màng vì vửa mới qua cơn đột quỵ, tôi không biết là mình được cận kề với một nữ họa sĩ tăm tiếng, đến nỗi mấy năm sau mới hiểu ra là mình đã lỡ duyên tương ngộ, tiếc ơi là tiếc. MTT

Dạy trẻ con lớp mẫu giáo làm quen với mầu sắc và vẽ ở Pháp

Học trò Pháp ngoan kinh khủng ! Các em học cách phân biệt khung tranh.

Dạy vẽ trên gốm sứ ở lễ hội làng ở Pháp

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 4

28. février 2021
Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 4

 

Alte Ansicht von St Alban im Frühling – Cảnh cũ nhà thờ St Alban khi xuân về tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 140 x 110 cm

Dr. Richard Kreidler, Museumsdienst Köln (Tiến sĩ Richard Kreidler, Cơ quan phục vụ Bảo Tàng Viện Köln):

Những lâu đài hoa nở rộ lộng lẫy, lưng lửng trên không, chân dung, cảnh vật „ một căn phòng trong một giấc mơ „ – bên cạnh đó là một bức tranh rất chi tiết vẽ cảnh điêu tàn đổ nát của nhà thờ Saint Alban trong khu vực Gürzernich với công trường khảo cổ và cũng là khu vực xây cất một bảo tàng viện mới để chứa đựng trường phái tranh cổ điển của thành phố Köln trong tương lai: Nội  dung của tranh Tuyết Trần có mục đích gì trong một hình thức vừa thôi thúc vừa có tính chất xa cách ?

Không phải một cách vẽ phóng túng cực độ và bất chợt mà hiện nay đang được xử dụng đến độ dư thừa, mà là một sự làm việc cống hiến đến nỗi quá độ các đề tài vẽ đã tạo ra sự hiện hữu của hai thái cực trong các bức tranh.

Diễn dải qua sự hình thành các tranh, hai thái cực hiện hữu này đã kích thích sự tăng trưởng sống động qua phong cách nghệ thuật hóa đối tượng, con người và hoa như là sành sứ, như đã sửa soạn sẵn sàng để lên sân khấu, hay là được tạo bằng tơ lụa trước mắt chúng ta, được bảo quản, hấp dẫn nhưng xa cách.

Với những kỹ thuật vẽ theo lối Á Châu, được toàn hảo bởi sức hấp dẫn của thế giới hiện đại trong tranh, Tuyết Trần đã khêu gợi cho người xem một tầm nhìn gần như hiện thực ảnh các đối tượng vẽ.

Cùng một lúc, cách nhìn riêng tư và những kinh nghiệm tâm trí đã in dấu ấn quan trọng trong sự thành hình tác phẩm, cho dù đó là một sự hiện hữu đơn giản của một đề tài trong khung cảnh sống cá nhân hay là trên đường đi: một cảnh vật, hoa bán trong tiệm hoa, hay là bông dâm bụt trên sân nhà. Qua tranh, những hồi tưởng đầy mâu thuẫn và những đánh giá các hiện vật tiểu sử cá nhân được thể hiện. Vì thế một loạt quang phổ về hoa hồng đã được mở ra qua sự thể hiện bằng mầu sắc và đường nét trên những khung cảnh và hậu trường lạ lẫm.

Theo dõi sự chuyển động của những cánh hoa người xem chìm đắm trong một biểu tượng tối cao của cây cỏ „ bởi vì trong không gian đóa hoa hồng không tên của nàng đã làm tan biết khẩu vị cay đắng của hoa cà „ ( trích R.M. Rilke ). Những đóa hoa vĩ đại, gần như làm nghẹt thở, vừa trang điểm không gian vừa nuốt chửng người xem: Mất Mát và Chiếm Đoạt trong tính chất „ hoa đã được hái „.

Cũng cùng trạng thái hư ảo này Tuyết Trần đã diễn đạt những cảnh vườn hoa và nhìn ra biển, mà trong đó con mắt người xem bấu víu vào mọi chi tiết, để giữ cái Gần, trong khi chiều sâu và tầm xa của tranh làm cho bối rối.

Các cấu trúc căn bản một sự không tưởng cuối cùng, được diễn tả qua những mảnh vải hay một nền hoa văn náo động, cũng đã hiện rõ nét qua những phần chân dung rọi sáng lóa. Ngay cả trong chân dung Mẹ và Con cũng rõ nét một tình cảm nối kết mâu thuẫn. Trẻ con trở thành một dấu hỏi, khi chúng không còn đẹp đẽ-hài lòng như bức chân dung hai đứa trẻ con ngồi yên lặng song đôi trên một bực thang.

Với phong thái vẽ rất chi tiết và toàn mỹ hóa sự hiện hữu Tuyết Trần không hề làm giảm cái giá trị quen thuộc của Hiện Thực trong phương hướng về nhãn quan cũng như về tâm hồn của người xem tranh.  Những tấm bảng đường méo mó vẹo vọ, những hố đào khảo cổ đầy cỏ dại, những tấm bảng gỗ bị gió bão vặn vẹo của một hệ thống chỉ đường, lẽ ra là chỉ đúng hướng – một tình trạng quen thuộc trong nhiều năm giữa lòng thành phố– minh chứng,  qua sự bảo toàn những dấu vết bằng một phong thái vẽ rất tỉ mỉ, sức đấu tranh với một Thực Tế luôn luôn thay đổi theo thời gian, đáng lý ra là không níu kéo lại được, và thực tế này vừa bảo vệ sự hiện hữu của nó lại vừa luôn luôn thoát chạy.

La forêt d’Halatte – Cánh rừng ở Halatte tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 170 x 120 cm

 

Mandala 1 tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 60 x 60 cm

Mandala

Trong một buổi thăm viếng thánh giáo đường Chartres tôi rất chú ý dến nền đá hoa bằng gạch đen trắng trước bàn thờ Chúa.  Pierre mới cắt nghĩa rằng đấy là một cái labyrinthe sám hối, người tín đồ quỳ gối trên nền đá hoa lạnh lẽo và tìm đường đi trên labyrinthe này bằng cách lê lết trên hai đầu gối cho đến khi tìm được lối ra. Trên đường về tôi liên tưởng đến bánh xe luân hồi và từ đó tôi vẽ trong đầu những bức tranh với ba chủ đề chính: labyrinthe của thánh giáo đường Chartres, bánh xe luân hồi và hoa sen. Bó hoa sen này tôi đã ôm theo lên máy bay trên đường trở về sau khi đã an táng mẹ tôi, vào một cuối năm ta. Tôi còn nhớ người nhân viên khám hành lý xách tay ở phi trường,  thấy tôi ôm bó hoa sen, và lỉnh kỉnh đem theo nào là bát hương, chân đèn đồng, lư đá, mỗi khi qua kiểm soát thì máy báo động kêu inh ỏi, anh ta hỏi  » Cô có chuyện gì … ?  »  » Dạ, má tui mới chết, tui đem đồ bàn thờ theo, qua bển.. . ». Anh ta thông cảm ngay  » Thôi, cô qua đi ! « . Đó là người nhân viên phi trường dễ thương duy nhất mà tôi được gặp. Về đến nhà, tôi lập ngay bàn thờ má tôi trên bàn học, khói hương nghi ngút, và tôi vẽ phác thảo ba bức mandala liên tục khi bó hoa sen còn tươi, chưa tàn. Bức Mandala 1 diễn tả hoa sen trong hài hòa với labyrinthe de Chartres, bức Mandala 2 diễn tả bánh xe luân hồi ẩn mình trong cánh hoa sen, bức Mandala 3 diễn tả hoa sen và bánh xe luân hồi. Khi tôi nhìn lâu và chăm chú vào tranh thì tôi có cảm tưởng là bánh xe luân hồi quay tròn, còn labyrinthe de Chartres thì cuốn hút tôi vào đấy, để tìm đường ra. Có lẽ đây là một trạng thái tự kỷ ám thị khi đầu óc tôi đang bận rộn với những suy nghĩ về cái chết và sự sống.

 

Adieu Corsica, Vĩnh biệt Corsica tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 100 x 80 cm

Les fleurs en dimension surréelle, portraits, paysages, une chambre dans le rêve, la ruine d‘une église avec le site archéologique… en détails minuscules… Pourquoi la distance, entre cette apparence extérieure des choses et sa façon de voir la vie, de son intérieur ?

Son style, un excès de détail consacré, produit l‘existence de la contradiction existentielle. La vie est représentée d‘une façon exagérée par son art des pinceaux, les êtres-humains et les fleurs comme en porcelaine, prêts pour la scène, conservés, attirés mais intouchables en même temps.

La pratique des techniques asiatiques, perfectionnée par les compositions modernes, donne une vue photographique réelle, pourtant son traitement des couleurs et de la lumière crée un sentiment d‘étouffement, d‘attraction, noyé par ses motifs. Perte et possession, loin et près, calme et agité… le temps dans ses tableaux est aussi contradictoire, il se manifeste mais aussitôt disparaît … ( Dr. Richard Kreidler, Historien de l‘art )

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 3

27. février 2021
Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 3

Năm bức tranh hoa hồng với năm mầu sắc khác nhau là biểu tượng của năm hoàn cảnh trong đời người. Có những người sinh ra đời đã mang theo vận mạng mình nhiều may mắn, mọi chuyện đều trôi chẩy theo ý muốn. Nhưng có những người kém may mắn hơn, đụng chạm vào thực tế không như ý nguyện. Mầu hồng là mầu của hạnh phúc bỗng chốc biến thành mầu của đau khổ. Mầu đỏ mầu của tình yêu bỗng chốc biến thành một sự lãnh đạm. Mầu xanh, hy vọng biến thành tuyệt vọng. Mầu trắng tinh khôi là mầu của thanh thoát trở thành kìm hãm. Mầu vàng mầu của niềm tin biến thành sự phản bội. Mỗi người tự cho mỗi mầu một ý nghĩa, nó thay đổi theo thời gian và theo cảm nhận. Mới bạn xem tranh và tìm thấy ý nghĩa của bạn trong tranh, tranh sơn dầu trên vải của Mathilde Tuyết Trần, 140 cm x 120 cm.

 

 

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 2

27. février 2021

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu – Kỳ 2 Les images du passé – Bilder einer Vergangenheit

Adieu Cavalière, je t´aimais bien – Vĩnh biệt Cavalière, tôi đã yêu nơi đây, tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 105 x 75 cm

Volker Wienecke (Cơ quan bảo trợ Nghệ thuật và Văn hóa của tiểu bang Nordrhein-Westfalen (Stiftung Kunst und Kultur des Landes Nordrhein-Westfalen)

Không phải bức tranh „Mönch am Meer » mà là một người mẹ trẻ với hai đứa con. Cái bị đeo lưng đã sửa soạn xong, sự tạm biệt đang diễn ra. Sau lưng họ, người xem tranh, tham dự vào khung cảnh nhưng thật ra không phải đứng trong tranh.

Một buổi sáng mùa xuân rất trong và lạnh ở miền Nam nước Pháp, cây cối còn trụi lá và, như tựa đề của tranh đã nói với chúng ta, một ngày chia tay.  „ Vĩnh biệt Cavalière , tôi rất yêu nơi đây….“  Bàn tay vẫy chào của đứa trẻ đứng bên tay phải, không phải để vẫy một con tầu đang chạy qua, mà vẫy chào nguyên cả một sự kiện: Đây là một cuộc chia ly của ba người với một nơi chốn thương mến và hơn thế nữa, là chia ly với một quãng thời gian đã qua, rất đẹp, mà một khi nhớ lại, lại sẽ buồn.

Người nghệ sĩ Tuyết Trần với một ngôn ngữ tạo hình đơn giản, mềm mại và mài dũa nhưng rất chi tiết đã đạt đến mức độ đưa người xem tranh vào một khung cảnh sống đẹp, gần như hư ảo. Với mầu sắc sáng và mãnh liệt, mà cô cũng đã dùng để diễn tả một cách gây ấn tượng cái ánh nắng sáng lóa của buổi trưa, cô đã truyền đạt được không khí của một sự hoài cảm đang đứng ngay chính giữa của Quá Khứ và Hiện Tại.

Cô tạo hình tượng những cái mà đáng lẽ ra người ta chỉ cảm nhận được.

Cô níu lại cái mà trên Thực Tế không thể níu lại được.

Người nữ nghệ sĩ việt nam Tuyết Trần đã sống hơn 35 năm tại Âu Châu. Sau khi tốt nghiệp ngành học Kinh Tế Quản Trị tại trường Đại Học Kỹ thuật Aachen,  cô đã làm việc tại vài cơ sở tư nhân trước khi nhận nhiệm vụ Khoa học gia Kinh tế và Quan Hệ Âu Châu trong một cơ quan hành chánh Đức. Bắt đầu từ giai đoạn này cô đã vẽ – song song với những công việc hàng ngày tuy đòi hỏi nhiều trọng trách nhưng không một chút nghệ thuật nào cả – như là kết quả của một sự phát triển cuộc đời, có thể so sánh với sự phát triển cuộc đời của nhà họa sĩ „ quan thuế“ Henri Rousseau.

Cũng giống như Rousseau, Tuyết Trần đã tự tìm ra hướng đi riêng biệt của mình mà không cần phải trải qua một học trình nghệ thuật, mà trong hướng đi đó, nội dung cũng như hình thức càng ngày càng rõ nét nghệ thuật tạo hình mà các trường phái Hiện thực ảnh, Siêu hiện thực và Ngây thơ đã chiếm chỗ trong tranh của cô.

Cho đến nay trong số 35 bức tranh của Tuyết Trần có thể được chia làm ba chủ đề chính: khung cảnh, con người và hoa lá. Tất cả mọi bức tranh, dù là đề tài nào đi nữa, đều toát ra một không khí đa sầu, hoài cổ. Những tựa tranh, nối kết với một kỷ niệm rất riêng của cô, cũng nói lên điều này. Mặc dù mầu sắc của người nghệ sĩ sử dụng thường hay là những mầu sắc trong sáng và sống động, nhưng mà cái thế giới rất đẹp trong tranh mà cô diễn đạt lại thường toát ra một ấn tượng về sự mong manh và phai tàn.

Tuyết Trần thuộc vào một thành phần nghệ sĩ hiếm hoi của thời đại hôm nay, những người với rất nhiều kiên nhẫn và nhiều xúc cảm để tạo ra những tác phẩm của họ, phải sau nhiều tháng làm việc cô mới thỏa mãn với kết quả của mình. Các bức tranh của cô đều có một cách cấu tạo rất phẳng và đều đặn đáng ngạc nhiên, làm người xem nhớ lại kỹ thuật vẽ láng của Dali, và không thể nhìn thấy nét cọ vẽ. Các họa sĩ yêu thích của Tuyết Trần là Dali, Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, Edward Hopper và Tamara Lempicka.

Les demoiselles Mai-Phi et Ti-Fanny – Hai cô bé Mai-Phi và Ti-Fanny tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 120 x 100 cm

Chi et Mai-Phi – Hai anh em Chí và Mai-Phi, tranh phấn dầu trên giấy vải nhật bản, 50 x 70 cm craie à l’huile sur papier en coton japonais, Ölkreide auf Japanischem Baumwollpapier

Komm zurück – Trở lại, tranh phấn dầu trên giấy vải nhật bản, 50 x 70 cm, craie à l’huile sur papier en coton japonais, Ölkreide auf Japanischem Baumwollpapier

Boudha ma joie – Phật vui tranh sơn dâù trên vải, huile sur toile, Öl auf Leinwand, 50 x 70 cm

Avec son langage de création artistique et sa technique, simple, souple, lisse, mais très détaillée, Tuyet Tran a réussi à créer une atmosphère presque surréelle dans ses tableaux. Ses couleurs claires, transparentes mais intenses, qu‘elle a pris pour reproduire la lumière phosphorescente du soleil de l‘après-midi par exemple, donnent l‘impression d‘une nostalgie, qui domine exactement la frontière fragile entre le passé et le présent. 

La vie pendant très longtemps dans les grandes villes, incontournable à cause de son gagne-pain, a donné à Tuyet Tran le besoin d‘être dans la nature. Elle aime peindre les paysages, les fleurs, les arbres mais aussi les portraits. Ses tableaux dans l‘ensemble, peu importe le motif, lié avec un événement de sa vie, réveillent un sentiment nostalgique et mélancolique, ce qui est accentué aussi par leurs titres. Ses couleurs sont toujours éblouissantes, claires, transparentes et vivantes, mais ce monde bien beau, qu‘elle dépeint, semble très fragile et éphémère. Elle montre, en fait, ce que l‘on peut seulement sentir. Et elle retient, en fait, ce que l‘on ne peut pas retenir, en réalité.

Après avoir fait beaucoup d‘expériences dans sa vie, elle a commencé à peindre, à tel point qu‘on peut la comparer avec le peintre H.Rousseau – un ancien douanier. Comme lui, elle a trouvé son style, sans avoir besoin une formation académique, elle peint avec son intuition et ses émotions, tandis que la forme et la contenance de son art figuratif se balancent entre le réalisme photographique, le surréalisme et le style naïf. Tuyet Tran appartient à un petit cercle d‘artistes de notre temps, qui prennent plusieurs mois, avec beaucoup de patience et de sensibilité, pour créer ses oeuvres, jusqu’au moment elle est satisfaite du résultat. Ses oeuvres possèdent une structure étonnement lisse et homogène, qui fait penser à la technique à lasure de DALI òu l‘on ne voit pas la traces des pinceaux. Elle aime Dali, Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, Edward Hopper et Tamara Lempicka.  (Volker Wienecker, Historien de l‘art)

Die vietnamesische Künstlerin Tuyet Tran lebt seit fast 35 Jahren in Europa. Nach ihrem Studium der Betriebswirtschaft an der RWTH Aachen arbeitete sie in verschiedenen Privatunternehmen, bevor sie als Wissenschaftlerin für Betriebswirtschaft und Europaangelegenheiten im öffentlichen Dienst tätig war.

Erst hier begann sie – parallel zu ihrer ebenso anspruchsvollen wie unmusischen Tätigkeit – mit der Malerei, als Ergebnis einer Lebensentwicklung, die vielleicht mit der des „Zöllners“ Henri Rousseau verglichen werden kann. Wie jener hat auch Tuyet Tran ohne jede kunstakademische Ausbildung einen eigenen Stil für sich gefunden, bei dem Intuition und Emotion im Vordergrund stehen, während Form und Inhalt ihrer immer gegenständlichen Bildkunst zwischen Fotorealismus, Surrealismus und Naiver Malerei angesiedelt sind. Dabei lassen sich bei den mittlerweile rund 35 Werken drei verschiedene thematische Schwerpunkte unterscheiden: Landschaften, Personenbildnisse und florale Motive. Gemeinsam ist allen Bildern, unabhängig vom gewählten Motiv, eine schwermütige, nostalgische Grundstimmung, die auch in den sehr persönlichen, an konkrete Erinnerungen anknüpfenden Bildtiteln anklingt. Zwar sind es fast immer strahlend klare und lebendige Farben, die die Künstlerin benutzt, doch die schöne Welt, die sie zeigt, wirkt oft sehr zerbrechlich und vergänglich.

Tuyet Tran gehört zu den wenigen Künstlern unserer Zeit, die mit sehr viel Geduld und Sensibilität ihre Werke schafft; oft braucht sie mehrere Monate, bis sie mit einem Ergebnis zufrieden ist. Ihre Bilder haben eine erstaunlich glatte und gleichmäßige Struktur, die an die Lasurtechnik von Dali erinnert und bei der die Pinselführung nicht mehr zu erkennen ist. Zu ihren künstlerischen Vorbildern gehören neben Dali auch Renoir, Magritte, Georgia O´Keefe, David Hopper und Tamara Lempicka.

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu của Mathilde Tuyết Trần – Kỳ 1

27. février 2021

Triển lãm ảo: Tranh sơn dầu của Mathilde Tuyết Trần – Kỳ 1

Nhân các bạn gợi ý làm một cuộc triển lãm ảo, một ý kiến rất hay, vì đã lâu rồi tôi bỏ quên mất những mầu sắc, giá vẽ và những cây cọ. Loạt tranh « Lataule mùa xuân » gồm có 6 bức khổ 60 x 60 cm, sơn dầu trên vải, vẽ cảnh làng tôi ở trong mùa xuân về tiếp nối đông tàn. Sáu bức tranh này có thể triển lãm rời ra hay gộp chung lại thành một mảng tường tranh. Bức thứ sáu còn đang vẽ dở dang….Họa sĩ nào cũng có thể còn một hay vài bức tranh dở dang, không vẽ tiếp vì…cụt hứng, hoàn cảnh thay đổi hay nhiều lý do khác. Mời các bạn thưởng thức năm bức đã xong….

Mầu sơn dầu tôi dùng là mầu của Đức, rất bền, sau 100 năm vẫn không đổi màu nguyên thủy của nó, không rạn nứt, không vỡ. Cách pha mầu đó là bí mật về kỹ thuật của những họa sĩ, làm thế nào để lớp sơn dầu lót mầu trắng ngà, những lớp sơn vẽ tranh và lớp sơn tráng bóng hay mờ cuối cùng không bị thời gian, ánh sáng và bụi bặm, ẩm ướt là những tác động chính của môi trường làm thay đổi. Bức tranh vẽ Montmartre xuất hiện gần đây của Van Gogh là một bằng chứng đó cho kỹ thuật vẽ bậc thầy xuất sắc của ông. Năm 12 tuổi tôi tình cờ được ba tôi cho đi học vẽ ở một lớp vẽ của một ông bác sĩ tổ chức trong khuôn viên của Viện Pasteur Saigon. Trong lúc tôi làm quen với cây cọ, giấy bản và mầu sắc thì ba tôi đi uống bia, ngồi chờ chở tôi về trên xe ếch bà. Thời đó tôi học cách pha mầu của thầy họa sĩ bằng bột mầu và dầu lin thiên nhiên. Trong nhà bỗng nhiên xuất hiện những lọ thủy tinh, những túi bột mầu thiên nhiên, những chai dầu lin, cọ đủ cỡ, giấy bản to….Bột mầu thiên nhiên bán theo cân lượng, nhiều khi mua chỉ 50 gram là nhiều, làm từ đá mầu mài ra, hay từ đất…thiên nhiên. Bây giờ thì người ta sản xuất bằng mầu nhân tạo nhiều hơn. Học gì tôi cũng đều rất mê mải, học vẽ, học đàn, học hát….Cứ như thế, buổi sáng tôi học ở trường và những buổi chiều đi học thêm, mỗi ngày đều bay biến nhanh chóng…Tôi bắt đầu vẽ tranh lại từ cuối những năm 1980 ở bên Đức vì buồn, khám phá ra là chồng tôi…có mèo, nhiều mèo tóc vàng nữa là khác…, hết con này tới con kia, tôi đi làm cả ngày, từ sáng sớm cho đến trưa chiều mỗi ngày, xong thì về, ở nhà một mình với đám con và…vẽ tiêu khiển….

 

 

 

Một ngàn đồng Việt Nam

26. février 2021

Một ngàn đồng Việt Nam – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Nhìn mớ giấy tiền lẻ trong tay tôi, anh tài nói, thôi cô trả tiền lẻ cho cháu đi, tiền này cô cho ăn mày còn không lấy. Đó là những tờ giấy có mệnh giá một ngàn đồng và hai ngàn đồng việt nam, có khi có cả tờ năm trăm đồng, là đơn vị tiền giấy nhỏ nhất.

Du khách thường không biết giá trị tiền việt nam nên tiêu xài phung phí. Nếu tính ra Euro thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,035 euro, (1€ = 100 cents (xu), 1 cent = 285 đồng vn) , và tính theo $ thì một ngàn đồng việt nam bằng 0,045 usd, một đơn vị khá nhỏ để mua bán và ở châu Âu thì không mua được gì cả, nhưng ở Việt Nam thì một ngàn đồng mua được một số hàng hóa giúp ích cho đời sống thường nhật.

Người ta thường xài từ giấy năm ngàn đồng trở lên, tức mười ngàn, hai chục ngàn, năm chục ngàn cho tới giấy một trăm ngàn, hai trăm ngàn và năm trăm ngàn đồng.

Hai chục ngàn đồng đối với lương công nhân là to lắm, vì đó là giá của một bữa cơm trưa có thịt, có canh. Với số tiền hai chục ngàn người ta có thể ăn no và ăn ngon, thí dụ như một đĩa cơm tấm với một miếng thịt sườn thật to nướng thơm ing ỏi. Một người công nhân kể cho tôi nghe rằng anh cố gắng chỉ ăn mỗi ngày 50.000 đồng, 10 ngàn bữa sáng, 20 ngàn bữa trưa và chiều, phần còn lại dành cho gia đình vợ con. Tính ra tiền ăn mỗi ngày của anh chưa tới 2 euros.

Mười ngàn đồng thì mua được một cái bánh mì saigon kẹp trứng, kẹp thịt, hay một tô mì gói cải thiện thêm thịt, thêm giò chả, hay một đĩa cơm tấm , một phần xôi nóng…buổi sáng ăn cho no bụng ở những hàng quán bình dân ven đường.

Buổi sáng người ta thường thấy dọc trên nhiều đường phố những chiếc xe bán bánh mì, cơm tấm, mì, phở, bún, cháo, xôi…người ăn ngồi trên vỉa hè quây quần chung quanh, húp xì xụp. Buổi trưa, lại còn náo nhiệt đông đúc hơn. Buổi tối lại còn thêm vô số, đếm không hết, những xe bán bò bía, ốc nướng, bánh tráng nướng, mực nướng, hột vịt lộn, hột gà nướng, bánh bao, xôi cúc, cháo gà…. những món bán dưới mười ngàn đồng cho học sinh, sinh viên ăn vặt.

Ăn sáng ở nhà, nếu muốn khá hơn một chút thì một ổ bánh mì thịt giá hai chục ngàn, một đĩa bánh cuốn nóng cũng cùng giá, tô phở ba mươi lăm ngàn. Người sài gòn biết chỗ đi ăn để khỏi bị móc hầu bao, và hình như họ ăn suốt ngày, nhất là càng về tối, mát trời, cái thú đi ăn đêm, nhậu nhẹt lại còn tăng lên. Ẩm thực vỉa hè, ẩm thực đường phố đang dần chiếm chỗ của những món ăn sang trọng, cầu kỳ.

Du khách như tôi phải trả cho cùng một món ăn như thế gấp đôi, gấp ba lần tiền vì thường lai vãng trong những hàng quán “nổi tiếng” như phở Hoà Pasteur, hay quán Ngon, khu ẩm thực chợ Bến Thành chẳng hạn, giá một tô phở bẩy mươi lăm ngàn, một phần bún chả giò cua chín chục ngàn, hay trong những khách sạn bốn sao, năm sao, thực tình mà nói ngon thì chẳng ngon hơn, chỉ có cái là chém đẹp.

Tuy nhiên ngoài vấn đề ăn ngon miệng, hợp khẩu vị, đối với người du khách vấn đề vệ sinh của món ăn, bàn ăn, chỗ ngồi , người phục dịch là điều quan trọng hơn. Cho nên, không có gì đáng ngạc nhiên khi mình cho là ăn dở, giá đắt thì lại được khách nước ngoài lựa chọn. Người nước ngoài có thói quen ăn uống phải có bàn , có ghế cao bình thường, họ rất ngạc nhiên khi thấy người Việt ăn uống trên những chiếc ghế đẩu bằng gỗ, bằng nhựa thấp chủm như là ghế dành cho búp bê, họ sợ ngồi xuống là té ngửa và cũng không quen ăn uống trong tư thế cái bụng bị gập đôi lại. Các hàng quán bầy hàng với bàn ghế thấp như thế, kể cả các quán cà phê sang trọng, là tự mình đánh mất đi phần thu nhập từ khách nước ngoài.

Nếu bạn có dịp đi chợ, bạn sẽ thấy rau, củ, quả, cá, tôm, thịt ….nhiều đầy ứ, rất tươi và rất rẻ, so với mức sinh hoạt ở châu Âu. Du khách sẽ thấy một đất nước Việt Nam hiện tại có cái ăn, cái mặc dư thừa. Thực phẩm bày bán ở các chợ, các phố phường, các hẻm to, hẻm nhỏ…nhiều vô kể và giá cả rất linh hoạt.

Từ khi biết giá trị của những tờ giấy một ngàn, hai ngàn tôi không dám xem thường chúng nữa và ăn tiêu ở nhà tần tiện hơn. Bạn có biết mua được những gì với một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam vào thời điểm hiện tại không ?

Với số tiền nhỏ nhoi đó, bạn có thể mua được vài tờ giấy viết thư hay để làm đơn, bao thư, tem, giây thun, một bản photocopy, một hộp nhựa đựng thức ăn, một hộp xốp, bao ni lông, cũng như một bịch sữa gội đầu, một bịch sữa tắm, một cục sà bông, hoặc mua một số thực phẩm như một bịch cơm trắng, một miếng mì gói, một vắt hủ tíu, một ổ bánh mì không, mấy trái ớt, chanh, tắc, hành lá, rau ngò, giá sống, một bó rau, muối trắng, một chút mè, một củ khoai, một trái chuối, vài củ nghệ, vài củ gừng, riềng, củ tỏi, trái bắp, một trái cà chua, một củ hành tây, đậu hũ….Trong một nhà « toi lét » của một công viên, tôi thấy những tờ giấy một ngàn đồng, hai ngàn đồng đặt ngay ngắn trong một cái rổ, bên cạnh xấp giấy trắng vệ sinh. À, bạn đặt tiền vào rổ rồi được lấy một, hai tấm giấy vệ sinh.

Bạn đọc còn cho biết, một ngàn đồng mua được điếu thuốc lá con mèo, 200 lít nước sạch của công ty nước sạch Hà Nội…Một ngàn đồng còn mua được một viên thuốc chữa bệnh, mấy viên thuốc bổ. Vì sức tiêu thụ của cá nhân tôi có giới hạn, nên hẳn bạn đọc còn nhận thấy một ngàn đồng mua được nhiều thêm nữa, có ý thức hơn về giá trị tiền tệ của mình. Tôi vui mừng đón nhận những ý kiến bổ xung của các bạn.

Hãy đặt câu hỏi ngược lại, nếu bạn đang cần một thứ nói trên, mà bạn không có một ngàn hay hai ngàn đồng để trả ? Chính vì thế, không nên khinh thường những tờ giấy bạc một ngàn đồng hay hai ngàn đồng việt nam, cho rằng “ăn mày không thèm nhận”.

Tiếp theo hai tờ giấy bạc mệnh giá một ngàn đồng, hai ngàn đồng là tờ giấy năm ngàn đồng…đã có giá trị to lớn hơn. Hẳn các chú tài taxi thích làm tròn số tiền khách phải trả, thí dụ như cuốc xe 74.000 đồng, khách đưa tờ 100.000 đồng, thì có người chỉ thối lại bằng một tờ 20.000 đồng với lý do là không có tiền lẻ. Vậy bạn hãy thủ một mớ tiền lẻ để trả tiền taxi, hay trả bằng thẻ ngân hàng.
Như thế, xem ra tấm vé số giá bán là mười ngàn đồng một tờ đã là một món tiền lớn cho người lao động, mà tâm lý hễ càng nghèo lại càng mơ ước trúng số độc đắc càng lớn, thúc đẩy người nghèo thường xuyên mua vé số, mất tiền toi. Có người may mắn, trúng số độc đắc những hai lần, đổi lại đồng tiền trên trời rơi xuống là phải gặp tai ương trong gia đình, đúng như cái câu của người Việt hay nói : « Của đi thay người » trong trường hợp ngược lại là mất của.

Nhưng cũng có người vừa chơi vé số, vừa cầu mong sao cho con gái mình kiếm được “chồng ngoại” hầu được đổi đời. Những người tự thấy mình không thoát ra khỏi hoàn cảnh, làm ra đồng nào ăn hết đồng nấy, ngày hôm nay không biết nghĩ đến ngày mai, thường nuôi dưỡng mình trong hai cái ảo vọng cuối cùng đó.

Cách đây vài năm, một nhà xuất bản lớn tại thành phố Hồ Chí Minh đã có ý định xuất bản một cuốn sách của tôi, nhưng vì bất đồng ý kiến với người biên tập viên phụ trách, mà sự việc không thành. Nguyên nhân chính là anh bạn trẻ biên tập viên này muốn cắt bỏ hết những đoạn văn tôi viết về giá cả trên thị trường Việt Nam. Những ai có học về kinh tế đều biết rằng giá cả trên thị trường là thước đo về cung/cầu, về mức độ lạm phát, về tình hình sản xuất thực tế của thị trường đó, về “sức mua” của giá trị tiền tệ, về tình hình phân phối vật chất, sản phẩm trong xã hội…Qua sự nghiên cứu về giá bán trên thị trường, người ta rút ra được nhiều kết luận kinh tế hữu ích. Cắt bỏ vì cho là nó rườm rà, vô bổ thì hoàn toàn đối nghịch lại với chủ ý của người viết, cho nên tôi quyết định không cho xuất bản cuốn sách đó và sự việc chết trong im lặng. MTT

Étiquettes : giá trị, Tiền tệ

 

Nam Định, thành phố những nhà thờ

26. février 2021

Nam Định, thành phố những nhà thờ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Tôi về Nam Định thăm quê nội xa xôi rất ngỡ ngàng. Như thường lệ tôi lên đường hoàn toàn không có người hướng dẫn, cứ nhắm mắt mà đi, nó có cái thú vị của nó, nhưng có một điểm đến là cái nhà thờ đổ Hải Lý ở bãi biển Nam Định.

Xem trên mạng chỉ biết nhà thờ ở làng Hải Hậu, Hải Lý. Cái hay ở chỗ, anh lái xe, theo anh ấy nói, cũng chẳng biết đường đến nơi ấy, đi đến đâu hỏi đường đến nấy. Người Việt Nam không quen dùng bản đồ, GPS cũng quá mới mẻ, không được cập nhật thông tin đều đặn thường xuyên, vì thế nên cách hay nhất vẫn là « con đường ở cửa miệng mình » như các anh tài vẫn thường nói.

Nam Định là thành phố lớn ở miền Bắc, tuy không phải là một địa điểm tham quan du lịch, thế nên bây giờ có đường cao tốc đi nhanh từ Hà Nội, vậy mà cũng phải mất hai tiếng cho một khoảng cách bản đồ 90 cây số Hà Nội-Nam Định.

Nam Định hiện tại có 1.826.900 dân trên một diện tích rộng 1.652,6 cây số vuông và lợi thế tiếp giáp với biển, bờ biển Nam Định dài 72 km gồm có các huyện Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng, là nơi tôi muốn đến.

Lần trước, tôi đã ghé thăm đền Trần, quê hương các vua Trần, mà tôi mang họ, theo cha.

Nam Định chính là quê hương của các vua nhà Trần thế kỷ thứ 13-15 (1225-1400). Sau hơn 6 thế kỷ lịch sử đã qua, ngày nay chỉ còn lại các di tích đã được xây mới trên nền cung điện cũ ở làng Tức Mặc (1239) đó là các đền Thiên Trường, đền Cổ Trạch và đền Trùng Hoa.

Trong lịch sử Việt Nam thì bà Lý Chiêu Hoàng chính ra là nữ vương thứ tư có toàn quyền cai trị nước, sau Hai Bà Trưng, bà Triệu, thái hậu Dương Vân Nga (hai triều Đinh-Lê 968-1.000), bẩy tuổi, nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (Trần Thái Tông), tám tuổi, năm 1225 lên ngôi vua, tức là triều đại nhà Lý chuyển sang triều đại nhà Trần, thực chất dưới quyền cai trị trong tay thái sư Trần Thủ Độ và cha là Trần Thừa (Thái Thượng Hoàng). Nhà Trần giữ ngôi được tới năm 1400 thì bị Hồ Quí Ly soán đoạt.

Tại đền Thiên Trường thờ 14 vị vua Trần, đền Cổ Trạch thờ Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, và đền Trùng Hoa có tượng đồng của 14 hoàng đế nhà Trần, và bài vị các quan lại triều Trần. Tôi đến không đúng vào dịp lễ khai ấn đầu xuân nhằm vào ngày 15 tháng giêng âm lịch hàng năm nên thong thả tham quan trong cảnh đền vắng lặng. Ngày hội khai ấn thì rất đông, chen chân không lọt, người nào xin được cái ấn đền Trần về treo ở bàn thờ tổ tiên thì rất là hãnh diện.

Các vua nhà Trần được thờ ở thôn Tam Đường, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà Thái Bình, (lãng mộ), Nam Định, Ninh Bình (hai vua Trần cuối cùng sau Hồ Quý Ly), Đông Triều và Quảng Ninh.

Lần về lịch sử trong quá khứ, tôi luôn luôn muốn nhìn thấy tận mắt những địa bàn sinh sống, xuất phát của những nhân vật lịch sử, dù cho thời gian đã xóa mờ nhiều dấu vết, nhưng khung cảnh sống hiện tại nói lên được phần nào, tại sao đất này sản sinh ra những vị anh hùng dân tộc.

Nam Định là đất lịch sử, có nhiều di tích, đền, chùa. Nhưng chuyến đi này, tôi khám phá ra một điều mới đối với tôi, như một người thân bên chồng, người Pháp, đã qua đời, mà lần cuối cùng gặp ông, chào ông trước khi chúng tôi lại về thăm Việt Nam. Khi nhắc đến Nam Định miền Bắc thì mắt ông ấy ướt lệ, làm cho tôi ngạc nhiên trước tình cảm ấy dành cho quê hương tôi. Ông là lính trong quân đội Pháp, đã đóng ở vùng biển Nam Định ba năm thời miền Bắc còn là đất thuộc địa của Pháp và quân Pháp đã phải rút về nước năm 1956. Một cô gái Nam Định đã niu kéo trái tim ông ? Đến nay, câu trả lời chỉ có ông biết và đã tan biến theo tro của ông rải trong làn nước biển xanh nước Pháp.

Trên đường đi, xe lướt ngang những cánh đồng lúa xanh rì mênh mông, lúa đang lên xanh, trĩu hạt, và những đàn vịt to lớn, trắng tinh, nhởn nhơ trong những ao hồ bên cạnh ruộng lúa. Thỉnh thoảng chạy ngang qua những cánh đồng muối trắng.

Một nhánh của sông Hồng chảy qua Nam Định, tức là con sông Đáy, mà nơi đầu nguồn gọi là sông Hát, gần Hà Nội, nơi Hai Bà Trưng tự vẫn.

Miền Bắc, phải nói là đất anh hùng, nhìn chỗ nào vào lịch sử cũng thấy anh hùng dân tộc cả nam lẫn nữ xuất thân.

Nam Định được ôm ấp bởi hai con sông Hồng và sông Đáy, nối liền với hai con sông này là sông Nam Định, được phù sa của hai sông bồi đắp, nhưng vì nạn hút cát ở cửa Ba Lạt nên hiện nay lại trái ngược gây ra tình trạng sạt lở.

Sông Hồng đổ ra vịnh Bắc Bộ ở cửa Ba Lạt, nằm ngay chính giữa hai bên bờ nam là Nam Định và bờ bắc ở Thái Bình. Người Pháp đã nhận ra tầm quan trọng của vị trí chiến lược quân sự-thương mại của Nam Định – Thái Bình, nên trong cái gọi là Hòa ước Nhâm Tuất 1862 ở điều khoản thứ năm Pháp đã đòi hỏi triều đình nhà Nguyễn ở Huế phải cho phép công dân Pháp được tự do thông thương và đặc quyền buôn bán ở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên.

Anh tài không biết đường, anh bảo thế, tôi không biết sao, nên cứ nhắm mắt mà lái, đến đâu hay đến đó. Một đỗi, qua khỏi khu « Bích Xê » (siêu thị Big C nằm ở ngay ngã vào thành phố Nam Định) lác đác đã thấy những tháp chuông nhà thờ nổi cao hẳn lên trên những cánh đồng. Tôi không biết là mình đã « thâm nhập » vào địa phận giáo xứ Bùi Chu ở Nam Định.

Giáo phận Bùi Chu hiện nay nằm gọn trong tỉnh Nam Ðịnh, là một trong những thành phố đầu tiên xưa kia do Pháp tạo nên, bao gồm sáu huyện Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Trực Ninh, Nam Trực và khu vực xứ Khoái Ðồng cùng khu vực phía nam sông Đào (các xã Nam Phong, Nam Vân và phường Cửa Nam) của thành phố Nam Ðịnh.

Người dân ở Nam Định đa số làm nghề nông, số ít làm muối, đi biển, buôn bán…vậy mà từ thời Pháp thuộc ngành dệt may Nam Định đã nổi tiếng và trở thành quan trọng trong quá khứ. Cùng với sự kiện quan trọng ấy, nhà thờ mọc lên rất nhiều, rất to, rất hoàng tráng, giữa thành phố Nam Định là nhà thở lớn Nam Định, thiết kế đơn giản so với những nhà thờ khác trong giáo phận.

Nhà thở Cổ Lễ – Nam Định

Đi mãi mà không cho khách tham quan được gì, bỗng anh tài ngoặc vào một nhà thờ trông thấy bên đường đi. Nhà thờ khá to, mầu xám. Chúng tôi xuống xe, ê ẩm cả người.

Nhà thờ đang được sửa chữa lại, tuy khá khang trang, mọi thứ đểu ngăn nắp, sạch sẽ. Vội vội vàng vàng, tôi chợt nhìn thấy một băng quảng cáo của một nhà băng trong vùng có địa chỉ thì mới biết mình đang ở đâu, đó là làng Cổ Lễ thuộc huyện Trực Ninh, gần quốc lộ 21A, là nơi tôi rẽ vào lúc nãy.

Ở làng này có chùa Cổ Lễ được dựng nên từ đời nhà Lý thờ quốc sư Nguyễn Minh Không cũng nổi tiếng vì là chùa nhưng mang dáng dấp của một thánh đường công giáo hòa hợp với kiến trúc cổ truyền.

Nắng đã lên cao chói chang trên đỉnh, chúng tôi được anh tài cho nghỉ ăn trưa trong một nhà hàng tiệc cưới, thuộc loại sang trong vùng, không có thực đơn, muốn ăn gì thì gọi món, nhà bếp làm tất. Tuy vậy mà lúc trả tiền tôi ngỡ ngàng vì rất rẻ, tôm, cá tươi, canh cua, cơm trắng đầy đủ, thịnh soạn, hai người ăn no và uống chưa đến 10 euros (250.000 đồng).

Nội thất nhà thờ Cổ Lễ

No bụng rồi chúng tôi lại lên xe chạy tiếp tục trên quốc lộ 21a thẳng đến nhà thờ Kiên Lao, cũng nằm cạnh quốc lộ 21a. Tôi biết đến tên Kiên Lao là một trong những nhà thờ đẹp nhất Nam Định. Tử quốc lộ rẽ vào, đường làng nhỏ hẹp hơn, lại càng không xứng đáng vởi ngôi thánh đường nguy nga to lớn đang hiện ra trước mắt tôi. Anh tài bảo tôi, trong vùng này cô cứ đi năm trăm thước là có một cái nhà thờ.

Nhà thờ to quá. Bên Pháp, mỗi làng đều có nhà thờ nhưng nhỏ bé, cũ kỹ với năm tháng. Kiên Lao nằm ở xã Xuân Tiến, huyện Xuân Hùng, tỉnh Nam Định, hiện nay giáo xứ có 9.215 tín hữu, gồm có 12 giáo họ, là đông nhất giáo phận Bùi Chu, được giáo sĩ truyền đạo Pierre Lambert de la Motte chọn làm tâm điểm truyền giáo năm 1670.

Tôi đã về thăm ngôi nhà thờ độc đáo Phát Diệm, nhà thờ Kẻ Sở nhưng về đây nhìn quanh tôi choáng ngợp bởi nhiều nhà thờ nhỏ hơn, nhưng không kém phần lộng lẫy nguy nga, đó là nhà thờ riêng của từng giáo họ, giáo họ nhỏ nhất chỉ có 93 tín hữu và giáo họ lớn nhất có 2.400 tín hữu.

Một ngôi nhà thờ họ ở Kiên Lao – Nam Định

Trong nhà thờ chính đang có nhiều người sửa soạn thánh lễ, chùng tôi xin vào chụp hình. Một người vui vẻ chỉ cho chúng tôi đường đi đến ngôi nhà thờ nguyên thủy của giáo sĩ Pierre Lambert de la Motte vào thế kỷ thứ 17, nếu không biết chúng tôi sẽ đi ngang qua mà không thấy. Quả thật, ngôi nhà thờ nguyên thủy được xây ụp lên trên bằng một cái nhà chắc chắn hơn để giữ gìn, nó chỉ nhỏ bằng một cái nhà ba gian thông thường ở miền Bắc, đang được các nữ tu dòng Mến Thánh Giá chăm sóc. Tình cờ, chúng tôi được một sơ mời nước, trời nắng quá, được uống ly nước chanh tươi mát rượi tỉnh cả người, rồi sơ còn cho chuối ngự và cả một bao đầy mảnh vụn bánh thánh lễ để chúng tôi ăn dọc đường sợ chúng tôi đói. Chồng tôi to mắt nhìn quả chuối ngự Nam Định, quả chuối to ú nú, thịt chuối trắng ngần rất thơm, chưa bao giờ ông ấy được ăn chuối ngon như thế.

Nhưng tôi sốt ruột muốn ra thăm nhà thờ đổ

Một ngôi nhà thờ họ ở Kiên Lao _ Nam Định

Hải Lý nên dục đi ngay khẻo trễ, khẻo màn đêm buông xuống rất nhanh. Nhà thờ Hải Lý bị đổ vỡ vì những đợt sóng biến đánh vào. Anh tài băng băng lái xe về hướng nhà thờ đổ Hải Lý. Nhà thờ kia rồi, từ xa đã trông thấy tháp chuông. Đến nơi. Tôi thất vọng quá.

Ngay sát bên cạnh nhà thờ Hải Lý mọc lên những hàng quán ăn uống, ồn ào náo nhiệt, tiếng nhạc phát ra ầm ĩ, lấn chiếm cả nền móng của nhà thờ, rác rưởi vất đầy. Sóng biển đánh vào ngay bên cạnh nhà thờ, nơi người ta đã xây bờ kè bằng bê tông để trấn giữ phần tàn rụi còn lại là thắng cảnh du lịch. Nhìn nước biển đỏ au, chồng tôi bảo vùng này biển mặn lắm. Tôi rời Hải Lý buồn rời rợi.

Trên đường về, chúng tôi còn cố gắng ghé thăm vương cung thánh đường Phú Nhai vài phút. Thánh đường Phú Nhai rất đẹp, được chăm sóc tỉ mỉ, sạch sẽ, chứng tỏ một đời sống đạo rất chăm chỉ của giáo dân giầu có, sung túc, và đời sống hai bên lương-giáo an bình, đơn giản, những ấn tượng mà chúng tôi có được trong một ngày cưỡi ngựa xem hoa ở Nam Định. MTT

Thánh đường Kiên Lao – Nam Định

Nước biển Nam Định đỏ au

Nhà thờ nguyên thủy của giáo sĩ truyền đạo Pierre Lambert de la Motte (1624-1679)

Nhả thờ cổ của thế kỷ 17 còn lại được lồng trong mái trùng tu (2018)

Vương cung thánh đường Phú Nhai – Nam Định 2018

Bên trong vương cung thánh đường Phú Nhai – Nam Định 2018

Pleiku, hoa cà phê thơm ngát

26. février 2021

Pleiku, hoa cà phê thơm ngát – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2018

Tôi đến Pleiku phố núi vào lúc mùa hoa cà phê nở thơm ngát, mùi hương cà phê tỏa ra ngây ngất từ những đóa hoa trắng tinh, trắng bóc mê hoặc lòng người. Chưa bao giờ tôi lại được thưởng thức một mùi hương lan tỏa khắp không gian và ngào ngạt đến thế. Hoa Serenga cũng trắng tinh, nổi tiếng là một loài hoa thơm, quý, được sử dụng cho những loại nước hoa đắt tiền của thế giới, vườn nhà tôi bên Pháp có một bụi hoa Serenga nhưng lại không thơm bằng hoa cà phê ở Pleiku. Đây là hoa cà phê robusta, loại cà phê được trồng nhiều ở Pleiku trên nền đất đỏ au áu của đất đỏ ban dan. Mùa Tết là mùa hoa cà phê nở cùng lúc với các loài hoa khác đón xuân, khoảng hai tháng sau thì quả cà phê được thu hoạch. Cà phê Gia Lai rất ngon, hương vị đậm đà, thơm nức, không thua kém gì các nơi khác. Tôi vào thăm đồn điền cũ của người Pháp xây dựng nên ở Pleiku trồng trà và cà phê, bên trồng trà bên trồng cà phê. Trà ở Plẹiku có nhiều nhưng không có tiếng như trà ở các vùng miền Bắc như trà Thái Nguyên, trà Yên Bái hay trà Bảo Lộc ở Lâm Đồng, và có vẻ như được gặt hái bằng máy công nghiệp để dùng làm loại trà lipton vùa có lá vừa có cả cành cắt nhỏ. Mùi hương thơm ngào ngạt của hoa cà phê quyến rũ hàng đàn ong bay lượn hút mật tạo thành mật ong hoa cà phê thơm lựng.

Gia Lai hay Pleiku không chỉ có trà, cà phê và mật ong thiên nhiên.Suốt dọc quốc lộ 19 đi từ Quy Nhơn về hướng Tây tôi thấy bao nhiêu là sản phẩm đặc trưng của Bình Định, Gia Lai. Đi ngang qua Tuy Phước là đã thấy rượu Bầu đá, bánh tráng, dừa, nem chua, tré, nón lá Tây Sơn trải dài hai bên lộ. Qua huyện Tây Sơn, nơi có các đia điểm tham quan như đền Bà Bùi Thị Xuân, Bảo tàng Quang Trung, Hầm Hô…các địa danh đều bắt đầu bằng chữ Tây như Tây Xuân, Tây An, Tây Phú…và các con đường chính đều mang tên Quang Trung, Nguyễn Huệ là đến đoạn lên đèo An Khê. Đường lên đèo An Khê khá dài, có khúc quanh mũi kim khá hiểm trở, dài 9,2 km, ở độ cao 499 mét. Điểm thú vị là ở hai đầu đèo, lên đèo và xuống đèo, có hai nhà máy làm đường từ cây mía, thế nên các xe tải chở mía đậu nối đuôi nhau hai ven đường chờ đợi tới phiên cung cấp mía, và không hiểu tai sao là các xe tải chở đầy mía chạy lên chạy xuống như đi chợ, dù là ở hai đầu đèo đều có rừng mía. Ở An Khê những rừng mía bạt ngàn chạy hút tầm nhìn. Phía xa xa, sau những khoảng đồi núi trồng tiêu là rừng cây cao su.

Chạy khoảng chừng 40 cấy số nữa là lên đèo Mang Yang. Phong cảnh ở đây đổi từ rừng mía sang thành những cánh đồng rộng mênh mông trồng tiêu, chanh dâu, cao su. Đèo Mang Yang dài 7, 5 cây số ở độ cao 788 mét, nhưng lại ít hiểm trở hơn đèo An Khê. Tiêu ở Gia Lai thơm lựng nhưng thơm nhất là loại tiêu rừng chưa xay đã thơm phưng phức, rồi đến tiêu đỏ thuộc loại tiêu quý hiếm ở châu Âu. Người dân phơi tiêu dưới ánh nằng như thiêu như đốt của vùng rừng núi Gia Lai.

Từ đèo Mang Yang đến Pleiku, qua thị trấn Đak Đoa, nhà cửa mỗi lúc một dày hơn, sầm uất, cho đến vào thành phố Pleiku lúc nào không biết. Tổng cộng cung đường Qui Nhơn – Pleiku dài 185 km, xe chạy hết 3 tiếng rưỡi. Từ Pleiku đi đến cửa khẩu Lệ Thanh qua Campuchia chỉ khoảng một tiếng đồng hồ.

Pleiku là một thành phố do Pháp thành lập từ năm 1905. Cái tên Pleiku là tên gọi đã được Mỹ hóa. Tên nguyên thủy thuộc ngôn ngữ của người Yarai là Ploi Kơdur (viết theo mẫu tự La tinh), có nghĩa là “làng thượng”, “làng trên”, cô H´wang, người hướng dẫn của tôi, giải thích với tôi như thế. Hiện nay Pleiku, thuộc tỉnh Gia Lai, là thành phố đứng thứ ba ở cao nguyên Tây Nguyên, sau Đà Lạt và Buôn Mê Thuộc, dân số gồm có 214.710 người gồm ba dân tộc chính: người Kinh, người Yarai và người Bà Nà. Thành phố Pleiku nằm trên độ cao trung bình từ 700 mét đến 800 mét, có khí hậu đặc trưng của miền núi, nhiều gió mùa, nhiều mưa.

Cô gái người dân tộc Yarai này nói tiếng Anh khá chuẩn, khác hẳn người Qui nhơn nói tiếng Anh, cô cắt nghĩa âm sắc tiếng Yarai có những cách phát âm gần giống như tiếng nước ngoài cho nên cô không gặp khó khăn khi phát âm tiếng Anh, không phải nói đớt như một số người Kinh. Cô gái sắc sảo này giải thích cho tôi nghe một vài điểm đặc sắc về dân tộc Yarai, thú vị nhất là khi cô kể về tục lệ hôn nhân.

Người Yarai theo chế độ mẫu hệ, cho nên đến tuổi lấy chồng là các cô gái Yarai phải đi “bắt” chồng. Người thanh niên Yarai ra giá để bắt, tính theo tiền bạc thời nay thì cái giá phải trả cho nhà trai là khoảng 80 triệu đồng việt nam, hoặc hơn, hoặc kém tùy theo đối tượng. Nếu cuộc hôn nhân thành tựu, nhà gái còn chịu tất cả tốn phí mổ bò, mổ lợn, mổ trâu, giết gà….để tổ chức đám cưới và rước chàng trai về nhà vợ. Nếu người chồng ngoại tình lần thứ nhất thì nhà trai bị phạt tiền gấp hai gấp ba lần tiền cưới. Ngoại tình nặng hơn, hay nhiều lần, thì người chồng bị xử làm nô lệ cho gia đình nhà gái. Tội ngoại tình nặng nhất thì bị chôn sống. Tục lệ xử phạt này ngày nay đã bị bãi bỏ, nhưng luật lệ “bắt chồng trả tiền” vẫn còn hiên hữu trong buôn làng, khiến cho các cô gái Yarai gặp khó khăn không ít khi đến tuổi lấy chồng. Có người yêu, mà không có tiền để bắt thì đành chịu. Khi chết đi, các người con phải được chôn cất cùng một chỗ với người mẹ. Và khi một gia đình muốn đi định cư tại một nơi khác để sinh sống thì phải làm lễ bỏ mả, lễ này kéo dài năm ngày với sự tham dự của cả buôn làng, tốn kém như một cái đám cưới.

Nhà lao Pleiku bây giờ chỉ còn lại một dãy nhà cổ do Pháp xây năm 1925, và được quân đội Mỹ tiếp tục sử dụng tiếp tục, quy mô tương đối nhỏ, không nói lên được hết thảm cảnh của những người tù chính trị ngày xưa, đa số là người dân tộc. Tuy thế, ngày xưa ai bị bắt bớ giam cầm ở nhà lao Pleiku coi như là một đi không về, bị tra tấn đến chết. Ngày nay được giữ lại để làm di tích lịch sử và giáo dục nhà trường. Nhà tù Phú Quốc với diện tích rộng lớn và quy mô gây án tượng mạnh hơn.

Khu vực Biển Hồ, nơi lấy nước ăn của Pleiku thì nằm im lìm dưới ánh nắng như thiêu đốt của vùng núi.

Trên đường về, lại qua đèo Mang Yang và đèo An Khê nhưng xuống đèo cảm thấy nhanh hơn là lên đèo. Trời xập xoạng tối, các xe tải nối đuôi nhau chạy lên chạy xuống rầm rập nhiều hơn ban ngày.

Kết thúc một chuyến đi, người Việt Nam thật là hạnh phúc, hơn cả nhiều dân tộc khác, vì được thiên nhiên ưu đãi. Biển cả cho cá cho tôm, rừng xanh cho cây cho trái, đồng ruộng đất đai cho lúa cho rau, con người hình như không cần phải lao động nhiều mà vẫn có ăn no đủ. Rừng vàng, biển bạc. Bán cá, bán hoa mầu, bán cát, bán đá, bán quặng mỏ, đất đai…toàn là những sản phẩm của thiên nhiên mà ra, rất ít công nghệ chế biến, công nghệ nhẹ. Có phải từ cuộc sống dễ dãi do môi trường, khí hậu, thiên nhiên ban cho mà người Việt Nam ít tiến bộ trong công nghiệp ? Tâm lý làm cho có chừng, chỉ đạt độ 8,9 là hay rồi không cần phải ráng lên tới 10, còn khá phổ biến. Xã hội Việt Nam có nhiều tiềm năng trông thấy, chỉ cần con người có cố gắng, biết tận dụng thời cơ và tận dụng khoảng thời gian đất nước đang thanh bình, vì không có gì khổ hơn là chiến tranh nổi, chiến tranh ngầm, tàn phá, mất mát, người Việt đã trải qua bao cuộc chiến kéo dài tàn khốc, hy sinh xương máu rất to lớn, ắt hẳn hiểu cái quý giá của sự thanh bình này hơn ai hết. Chúc cho Pleiku mỗi năm vào mùa Tết hoa cà phê lại nở tỏa hương ngào ngạt.MTT

Hoa cà phê trắng nuốt và thơm ngát

một bên trồng trà một bên trồng cà phê

Nhà mồ dân tộc Tây Nguyên

Trời nắng khô, các rãnh thoát nước đều khô

Chúc cho đời một mùa xuân mới, một ngày mới

3. février 2021

Hôm nay 03.02.2021 là tiết Lập xuân theo âm lịch…, thêm một mùa xuân mới nữa đã đến…, hạnh phúc sao khi mở mắt ra là thấy ánh sáng chan hòa, một ngày mới, ngày xuân mới của vạn vật bừng lên sức sống, mãnh liệt của những cánh hoa bé tí teo chồi lên mặt đất, chim chóc lại bay về hót tưng bừng sớm mai….Trong ý nghĩa đó, mời bạn nghe một bài hát « Ngày mới » qua tiếng hát của Tuyết Trần cách đây đã mấy mươi năm, (lời nhạc: Tuyết Trần, nhạc và hòa âm: PTQ) và chúc bạn những gì tươi đẹp nhất của cuộc đời, bỏ quên đi những gì đã làm cho mình bận rộn tâm trí, ưu phiền, nhìn cái tốt cái đẹp dù là rất nhỏ nhoi…

Tết Tân Sửu, 12.02.2021

Vụ án Sophie Le Tan chấn động dư luận Pháp

20. janvier 2021

Vụ án Sophie Le Tan chấn động dư luận Pháp – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Theo sự công bố của công tố viên Philippe Vannier, ngày thứ sáu 25.10.2019 báo chí Pháp thông tin một thi thể được tìm thấy trong cánh rừng thuộc địa phận Rosheim/Grendelbruch vùng hạ lưu sông Rhin.

Thi thể này bị cắt rời ra thành nhiều mảnh, một người cảnh sát trong ngày nghỉ của ông, khi dạo chơi trong khu rừng cùng với gia đình để hái nấm, đã phát hiện ra hôm thứ tư 23.10.2019.

Thoạt tiên, ông tìm ra một cái đầu đặt ngay trên đất, cách đó chừng mươi thước là một phần thân thể bộ phận ngực, tóc đen, đã bị hư hại nhiều, có thể thú rừng (chó sói, heo rừng, cáo…) đã đào xới và ăn ngậm.

Ngày chủ nhật 27.10.2019, bà Yolande Renzi, công tổ viên của tòa án tại thành phố Strassbourg, đã công bố thông tin chính thức những mảnh thi thể đó là của Sophie LE TAN, một cô gái gốc Việt mất tích từ tháng 10 năm 2018.

Cơ quan giám định pháp y của cảnh sát pháp tại Paris (INPS) đã chứng nhận kết quả theo cuộc điều tra gen ADN là phủ hợp với gen ADN của Sophie Le Tan. Mọi kết quả giám định pháp y sẽ được công bố trong tuần sau, vào thứ hai 28.10 sẽ có một cuộc họp báo của tòa án.

AFP / PATRICK HERTZOG

Gia đình của Sophie Le Tan luôn đòi hỏi để tìm được xác con mình, để biết chắc chắn rằng con mình đã bị sát hại. Cùng với những người tình nguyện gia đình Sophie Le Tan lùng xục tìm kiếm khắp nơi nghi vấn.

Sophie Le Tan đã mất tích ngày 07,09.2018, ngay ngày sinh nhật của cô, sau khi cô đến coi một căn hộ cho thuê ở Schiltigheim, vùng hạ lưu sông Rhin. Người rao cho thuê là Jean-Marc Reiser, 58 tuổi, đã từng bị kết án về tội hiếp dâm và được tha bổng trong vụ mất tích của một người phụ nữ khác trong những năm 1980 vì thiếu bằng chứng.

Dấu máu của Sophie Le Tan trong căn hộ, trên hai tấm bạt, trên nắp của máy giặt, trong nhà tắm đã được lau chùi cẩn thận và những tang vật tìm thấy, không làm cho Jean-Marc Reiser sợ hãi, ông ta tiếp tục chổi bỏ và chỉ khai rằng, ông ta đã săn sóc một vết thương của Sophie Le Tan, khi cô này rời khỏi căn hộ.

Những dấu máu tìm thấy trên một cái cưa trong hầm số 65 của tòa nhà gồm 6 tầng ở vùng ngoại ô phía Bắc thành phố Strasbourg đã được cơ quan INPS giám định và chứng nhận là của Sophie Le Tan.

Vấn đề là khi đó vẫn chưa tìm ra được thi thế của Sophie Le Tan.

Khu vực cánh rừng này, Grendelbruch, đã được cảnh sát ghi nhận qua cuộc giám định một trong những cái điện thoại di động của Jean-Marc Reiser trong đêm tiếp theo ngày cô Sophie Le Tan biến mất.

Jean-Marc Reiser biết rất rõ cánh rừng này, thưở nhỏ hắn ta đã từng theo cha là người gác rừng vào những ngôi nhà của kiểm lâm trong rừng và hắn ta thường trỏ lại những nơi này. Cảnh sát đã lùng sục khu rừng này bằng trực thăng và chó săn, nhưng phải bỏ cuộc vì khu rừng quá rậm.

Trong tuần tới sẽ diễn ra một cuộc thẩm vấn mới Jean-Marc Reiser, hiện đang bị tạm giữ kể từ ngày 17.09.2018. Trong các báo cáo về tâm lý học của các chuyên gia tòa án, ông này được chứng nhận là một người cao ngạo, lạnh lùng, khinh miệt, tàn bạo, che dấu mọi quan hệ tình dục đối với phụ nữ của mình, tìm kiếm trên Internet về phụ nữ Á châu. Trong vụ án về bà Françoise Hohmann, mất tích năm 1987, ông này đã hoàn toàn chối bỏ trước tòa án, dẫn đến kết quả là ông được tha bổng năm 2001.

Jean-Marc Reiser

Hôm qua, báo chí Pháp công bố vào sáng nay, 20.01.2021, rằng trong phiên tòa thẩm vấn Jean-Marc Reiser là thú nhận, rất bất ngờ, là đã giết Sophie Le Tan rồi chặt nhỏ thi thể để thủ tiêu cho dễ, điều mà cho đến nay hắn vẫn kiên quyết phủ nhận.

Sự việc đã dần dần được sáng tỏ. Điều còn lại là gia đình Le Tan phải sống tiếp tục trong đau đớn, khôn nguôi thương xót đứa con. Trong bất cứ tình huống nào, những người qua đời khi còn trẻ tuổi đều để lại cho cha mẹ và gia đình những vết thương đau nhức không hàn gắn lại được, cha mẹ khóc con, đó là điều bất hạnh lớn nhất. Nhưng cũng xin được an ủi một điều, số phần ngắn ngủi nợ trần gian chỉ có thế thôi, ra đi để có một số phần khác chắc chắn là tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn. Và dặn dò những cô gái, không nên đi tìm nhà ở thuê một mình. MTT

Bạn họ Nguyễn hay N´guyen ? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

14. janvier 2021

Bạn họ Nguyễn hay N´guyen ? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Tôi khá bực mình khi nghe người ta gọi tên mình sai, nhưng thật tôi không có lý để bực mình, vì người ta có hiểu tên và họ của mình đâu, mình cũng không hiểu tên và họ của những dân tộc khác. Tôi viết bài này cho cả hai bên Pháp – Việt có thể thông cảm được nhau trong cách đặt tên và gọi tên.

Dân Pháp, theo những người nghiên cứu gia phả thì họ bắt đầu có họ, thêm vào với tên, vào khoảng thế kỷ thứ 15.

Cả làng mang tên Jean, tên được chọn hàng đầu cho con trai, con gái thì là Marie.  Vậy muốn tìm kiếm ai thì phải biết thêm chi tiết Jean, mà ở đâu ? Có điểm gì đặc biệt ? Đầu làng, cuối làng, bên cạnh giếng nước, cạnh bìa rừng…cao, thấp, to, bé…? ở vùng nào ? Từ đó mà xuất hiện Jean Lelong, Jean Lepetit, Jean Dubois, Jean Dupont, Jean Dechamp, Jean Lafontaine, Jean Defrance….

Người Pháp viết tên trước, họ sau.

Bình thường mỗi người Pháp có ba tên và họ, nhưng chỉ sử dụng một tên đầu, thí dụ: Jean Michel Marie Lelong, thì chỉ sử dụng Jean Lelong.

Phụ nữ Pháp khi lấy chồng, trên hộ tịch vẫn giữ tên như trước khi lấy chồng, nhưng được quyền sử dụng tên chồng một cách chính thức, được ghi tên chồng trong các giấy tờ hộ tịch.

Người Pháp có một truyền thống rất hay là dùng tên cha, mẹ, ông bà ngoại nội, chú, bác, cô, dì để đặt làm tên, tên chính hay tên thứ, cho con để có tiếp nối gia đình. Nhờ có điều này mà các nhà nghiên cứu gia tộc, gia phả tìm lại được những mối liên hệ từ cả mấy trăm năm, những sự chuyển vùng sinh sống của tổ tiên, gốc tích…Nhiều khi, đặc biệt là cái họ bị chép đi chép lại, nét chữ, tuồng chữ viết không rõ ràng nên bị truyền lại sai lạc đi.

Tên người châu Âu nói chung dễ phân biệt nam nữ. Người Pháp lấy tên các thánh nam như Jean, Pierre, Michel, Thierry, Daniel…hay các thánh nữ như Marie, Madeleine, Christine, Brigitte, Helene, Rose, Sylvie…

Trong thời đại mới, tùy theo gốc tích và theo „mốt“ dân chúng du nhập thêm các tên nước ngoài vào cách đặt tên cho con trai như Kevin, Liam, Tiago, Kais, Kenzo, Ali…cho con gái như Lina, Zoe, Romy, Nour, Zelie, Lila, Noemie….

Người Việt khi nhập đạo Công giáo lấy „tên thánh“ thí dụ như Jean Bùi văn Bê, thực ra cũng như phong cách đặt tên của người Pháp vậy, tên nào thì cũng là tên của các thánh.

Và cũng có những người mang họ kép phối hợp họ cha và mẹ: Dubois-Dechant.

Trong phạm vi của một bài viết ngắn gọn tôi xin miễn bàn về tên của các dòng họ hoàng gia châu Âu với những chức tước dài lòng thòng khó hiểu.

Từ lâu, tên và họ cần thiết cho công việc hành chánh hộ tịch các loại, bán nhà, bán đất, kết hôn, khai tử, thừa kế….

Bây giờ, việc quản lý người dân được hệ thống hóa bằng vi tính, điện tử, ngày càng tinh vi, tối tân hơn. Kiểm soát bằng thẻ nhà băng, điện thoại, địa chỉ và một cái tên cũng không đủ, con người phải được nhận diện rõ ràng bằng dấu tay, khuôn mặt, những con số…để một con kiến cũng không lọt được mạng lưới quản lý hành chánh.

Người Việt có nhiều họ, nhưng đa số thuộc khoảng mười dòng họ chính theo họ của các các triều đại vua và chúa trị vì trong lịch sử Việt: Triệu, Lý, Ngô, Đinh, Lê, Trần, Trịnh, Nguyễn và các công thần đại quan Phạm, Huỳnh, Vũ, Bùi, Đỗ, Hồ, Dương…

Triều đại càng xa thì số người mang họ của triều đại đó càng ít đi như Triệu, Đinh, Ngô, Lý, Lê, Trần….

Bởi vậy, ngày nay con số người mang họ Nguyễn, là triều đại nhà Nguyễn từ vua Gia Long cho đến vua Bảo Đại trải qua 143 năm trị vì (1802-1945), chiếm gần 40% dân số cả nước Việt Nam gần 100 triệu người. Kế đó là họ Trần 13% và họ Lê 11%.

Nếu bạn họ Nguyễn ? Thì bạn thuộc vào 40 triệu người cùng họ Nguyễn, dòng họ cuối cùng của Việt Nam. Bạn bực mình khi bị gọi tên là N´guyen ? N´guyen là sai tuyệt đối, không phải là cách viết tên hay đọc tên của người Việt hay gốc Việt.

Họ và tên của người Việt gồm có ba phần: Họ + tên đệm + tên chính. Chữ đầu là họ chữ cuối là tên.

Để phân biệt trai và gái, đàn ông và đàn bà, cách đặt tên theo lối cổ xưa thì thêm vào chữ Văn cho phái nam và chữ Thị cho phái nữ. Ở đây tôi không đi sâu vào việc giải nghĩa tại sao lại như thế, e bài quá dài.

Thí dụ như: Nguyễn văn Anh, Trần thị Hoa

Tuy nhiên, cách đặt tên cho con của cha mẹ thì rất tự do, cho nên có nhiều phong cách khác nhau.

Họ đôi: Nguyễn Trần văn Anh (ghép họ cha và họ mẹ lại với nhau)

Tên đôi: Trần thị Hoa Mai

Hoặc bỏ hẳn chữ lót Thị hay Văn theo lối cổ xưa:

Nguyễn Hùng Anh

Trần Hoa Mai

Hoặc cả tên cha thêm tên con:

Nguyễn Cao Kỳ Duyên

Hoặc chi có họ và tên, không có tên đệm hay tên lót, thường chỉ dùng cho giới nam: Nguyễn Bá, Trần Cảnh…

Có những họ, mà vừa là họ vừa có thể đặt là tên, dễ gây nhầm lẫn,

thí dụ như Phan, Hoàng, Lê, Ngô, Trương, Chu, Châu, Phùng, Quân, Tống, Trác, Mai…

Có những tên đặt cả cho nam cũng như nữ:

thí dụ như Anh, An, Bình, Hà, Khánh, Linh, Lương, Nguyên, Tâm, Thanh, Tú, ….dễ gây nhầm lẫn không biết là nam hay nữ, nếu không có một tên đệm kèm theo làm rõ nghĩa.

Có những tên làm đau đầu nhân viên hộ tịch nước ngoài, thí dụ như Nguyễn Nguyên, viết không có dấu thì tên họ giống nhau

Nhiều gia đình có văn hóa cao lại còn điệu hơn khi đặt tên cho con, họ chọn một chữ ghép với họ để làm họ đôi cho các đời sau, như thế họ sáng tạo ra một dòng họ mới, thí dụ như dòng họ „Nguyễn Hùng“ cho đến khi nào con cháu tự ý không sử dụng tên đệm là „Hùng“ thì mới dứt.

Cha là Nguyễn Hùng Anh

Con là Nguyễn Hùng Kiệt

Cháu là Nguyễn Hùng Cường

Chắt là Nguyễn Hùng Dũng

Chít là Nguyễn Hùng Mạnh

Vấn đề khó khăn trong cách đặt tên của người Việt là nằm ở tên đệm.

Tên đệm đứng độc lập: thí dụ như Nguyễn Trương Hà, Trần văn Anh, Lê thị Hoa….

không phối hợp được với họ hay tên.

Tên đệm phối hợp với tên chính: để cho có tên đẹp, văn vẻ, có những tên phối hợp rất „kêu“ cho nữ giới như Ngọc Dung (mặt đẹp như ngọc), Thanh Hà (dòng nước xanh)…và cho nam giới như: Thanh Liêm, Chính Trực, Phú Quý, Vinh Quang, Tuấn Tú….

Đáng lẽ những tên kép phải được viết bằng gạch nối, nhưng ít có người sử dụng gạch nối, điều này dễ gây ra những sự nhầm lẫn trong hộ tịch hành chánh, nhất là ở nước ngoài.

Ngoài tên trong giấy khai sinh, thói quen và tập tục tạo ra thêm một loạt tên nữa gắn bó với con người, thí dụ như tên trong nhà: cu Tí, con Ti, cái Hĩm, bé Na, cu Mít, cô Hai, cậu Tư, Út thôi, Út nữa, Út hết.., tên bí danh, tên mật danh, biệt hiệu, tên gọi ngoài đường thí dụ như người tên Bông có vẻ quê mùa, trong nhà gọi là Bông, nhưng ra đường đổi lại thành Hoa cho văn vẻ hơn.

Sử sách chép lại là vào thế kỷ thứ 19 chúa Nguyễn Phúc Ánh cho  những đoàn thuyền vượt biển với hơn 3.000 người Trung Hoa định cư ở miền đất miền Nam, nên có nhiều hậu duệ gốc Hoa ở vùng này mang họ có gốc tích người Tầu, thí dụ như họ Trát, họ Cao…

Trong lịch sử nước mình có nhiều chuyện « thay tên đổi họ » vì hoàn cảnh loạn lạc, chiến tranh, bị tù đày, ép buộc …, phải đổi họ sang họ khác, hay không dám lấy họ cha phải lấy họ mẹ ….

Riêng đối với tên vua chúa nhà Nguyễn thì lại còn đặc biệt hơn nữa. Triều đại nhà Nguyễn chấm dứt năm 1945, nên còn hiện đại, những người thuộc dòng dõi hoàng tộc còn rất nhiều, phần lớn họ gặp khó khăn với chính quyền hành chánh nước ngoài về hộ tịch, trong nước cũng không kém khó khăn vì cách đặt tên của hoàng tộc. Lấy thí dụ như trường hợp của vua Duy Tân ở Pháp.

Hành chánh Pháp chỉ ghi tên của vua Duy Tân vẻn vẹn là Prince Vĩnh San trong hồ sơ lý lịch, bỏ mất họ là Nguyễn Phúc có từ đời vua Gia Long là chúa Nguyễn Phúc Ánh. (Người miền Nam nói trại chữ Phúc là chữ Phước: Nguyễn Phước Ánh.)

Chính ra vua Duy Tân có nhiều tên:

tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San

tên sau khi lên ngôi là Nguyễn Phúc Hoảng (ghi trong kim sách nhà Nguyễn)

niên hiệu (đời vua) là Duy Tân

Các con của vua Duy Tân, khi được làm lại giấy khai sinh để mang họ cha, vì không biết tục lệ, cha tên là Prince Vinh San thì cứ thế lấy luôn cái tên làm họ, rồi tới đời cháu, đời chắt cũng mang luôn tên Vinh-San, vô tình mà họ „sáng tạo“ ra dòng Vinh-San trên đất Pháp, cũng là một điều hay, sau này có ai mang họ Vinh-San thì người đó là hậu duệ của vua Duy Tân. MTT

Kim sách nhà Nguyễn, khắc bài Đế hệ thi của vua Minh Mạng, để đặt tên cho các hoàng tử dòng chính thống của vua Minh Mạng – vua Gia Long, họ là Nguyễn Phúc :

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thụy Quốc Gia Xương

Vua Duy Tân là Nguyễn Phúc Vĩnh San (đời thứ 5 sau vua Minh Mạng), tên thứ hai San được chọn trong bộ Ngọc. Nhà Nguyễn làm vua đến đời Bảo Đại thì chấm dứt. Nếu các dòng con cháu kế tiếp không giữ cách đặt tên như trên thì thất lạc.

Nắng Tây Nguyên, trăng Tây Nguyên – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2015

12. janvier 2021

Nắng Tây Nguyên, trăng Tây Nguyên – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2015

Cháu Hương, cô gái Buôn Mê Thuột duyên dáng, rất thông hiểu về vùng đất của mình – Photo: MTT 2015

Tôi về thăm quê đã từ nhiều năm, nhưng chưa có năm nào như năm nay cái cảm giác „Từ Thức về quê“ lại mạnh rõ ràng hơn hết. Một sự „cựa mình“ từ Bắc chí Nam, chỗ nào cũng có đường mới, cầu mới: Cựa mình vì cầu mới đường mới đếm không hết. Không có cầu đường giao thông thì làm sao có phát triển kinh tế ?

Từ cây cầu Nhật Tân và đại lộ Võ Nguyên Giáp rất mới, hiện đại, to, rộng, cho đến những gầm cầu đầy cỏ xanh và hoa lá ở Hà Nội, cho đến cây cầu Sài Gòn mà bề rộng đã được nhân lên gấp hai, mỗi chiều bốn lằn xe hơi và một lằn xe hai bánh, cho đến cầu Ông Lãnh, cầu chữ Y đều được làm lại mới, cầu Đồng Nai, cầu Kênh Tẻ, cầu Nguyễn Văn Cừ, đại lộ Đông Tây chạy dài theo bờ kênh Bến Nghé, bến Chương Dương (nay là đường Võ Văn Kiệt) để về miền Tây hướng Tân An, Long An…nước xanh cá lội, khác hẳn những đẫy nhà sàn mọc trên cọc bên bờ kênh nước đặc quánh đen thui bốc mùi xú uế xưa kia…trong Nam, cho đến cảng T1 mới của phi trường Nội Bài mà hành lang từ cửa máy bay vào chỗ khám hộ chiếu thông hành dài lê thê thẳng tắp cả cây số, khiến du khách đang mệt mỏi vì những chuyến bay dài, thay đổi giờ giấc, chân thấp chân cao, vác, kéo, bưng, đeo khệ nệ hành lý xách tay đi muốn lả cả người. Không có một cái xe đẩy hành lý nào được đem ra khi khách xuống máy bay. Mà nếu có xe đẩy thì lại không sử dụng được thảm di dộng, thế mới là bất tiện đủ điều. Công bằng mà nói, cảng 2E của phi trường Paris-CDG còn “khủng” hơn, mệt hơn, toát mồ hôi hơn, hành khách phải đi bộ rất xa để lên máy bay, cũng như xuống máy bay phải đi bộ rất xa để vào đến nơi kiểm soát thông hành và lấy hành lý.

Sàigòn là một thành phố đêm không ngủ. Dòng triệu triệu người, triệu triệu xe thao thức suốt đêm ngày. Họ đi đâu mà cứ đi mãi, không ngưng nghỉ. Nếu có sống ở những thành phố rất đông dân cư và mùa nắng kéo dài như ở Sàigòn thì mới hiểu nỗi khổ, nỗi nhọc nhằn của những người phải di chuyển để kiếm sống, nhất là những người lái xe hai bánh. Bụi đường, khói xe tải, khói xe bus bốc mùi ngột ngạt hôi hám khó thở phủ đầy mặt mũi, tóc tai quần áo, còi xe nhà xịn, còi xe tải, còi xe bus thúc nhức nhối lỗ tai, mỗi khi chen chúc nhau, nhúc nhích từng phân, từng mét một , tay lái kề sát tay lái, khi phải nối đuôi nhau, chen lấn nhau trên đường, hay đan chéo nhau chằng chịt trên các ngã tư, các vòng xoay năm, sáu ngã đường…cả thành phố chìm trong những sự ô nhiễm môi trường nặng nề, gây ra nhiều bệnh tật trầm trọng. Vì thế, những công việc làm giảm mọi sự ô nhiễm môi trường như ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước sinh hoạt, nước uống, nước thải, ô nhiễm tiếng động, rác rưởi, giảm stress, giảm mầm bệnh tật, giảm thời gian dành cho di chuyển vì công ăn việc làm hàng ngày…là có ích lợi cho sự sống của con người.

Ngày xưa, ba tôi thỉnh thoảng theo bạn bè đi săn ở Buôn Ma Thuột hai ba ngày. Ba tôi biết bắn súng săn, cưỡi voi, cưỡi ngựa…Mỗi khi ba tôi về là có thịt nai, thịt heo rừng, mật gấu, mật ong rừng, ngà voi như vòng đeo tay, bông tai, răng heo…Có lần ba tôi đem về cả một tấm da nai, ông làm cho mình một cái ví đàn ông để đựng giấy tờ và tiền. Khi ba tôi chết, cái ví ấy đáng lẽ ra bị vất vào thùng rác nhưng may mắn cho tôi, là tôi xin được cái ví ấy để đem về làm kỷ niệm đặt lên bàn thờ. Nên, Buôn Ma Thuột đối với tôi trong trí nhớ vẫn là một bản làng có nhiều voi, thú rừng và những tiếng trống, tiếng chiêng trong rừng rậm núi đồi hoang sơ.

Khi anh tài bảo là khoảng cách từ Sài Gòn đi Buôn Ma Thuột chỉ có khoảng 380 cây số thôi, người ta đi 9 tiếng, nhưng anh chỉ cần lái 6 tiếng là tới, tôi đã thấy hãi hùng. Chúng tôi lên đường sau bữa cơm trưa. Có thể nói từ đầu con đường cho đến cuối con đường Sài Gòn – Ban Mê Thuột là một công trường dài suốt. Có khúc vừa mới làm xong, bánh xe lướt êm, có khúc gạch đá lổn nhổn, đầy ổ voi, gầm xe cứ đập mạnh xuống đường còn chúng tôi thì cụng đầu vào nóc xe, và tay lái anh tài thì cứ vòng vèo lách phải lách trái….may mà vợ chồng tôi không hề bị say xe. Những đoạn còn đang làm lại rùng rợn thêm khi nó nằm ở sống núi, hai bên là vực, thế mà các xe to, xe nhỏ, xe tải kiểu Mỹ, xe hai bánh cứ nối đuôi nhau tung bụi mà chạy. Vượt được khoảng nửa đoạn đường anh tài cho vào ăn trong một quán „xe tải“, cứ quán nào có nhiều xe đậu trước cửa là „ngon“, mình cũng tấp vào. Ngồi xuống bàn là chủ quán chỉ cần đếm đầu người để dọn cơm, không cần phải xem thực đơn, vì mâm nào cũng chỉ có bấy nhiêu món, 60.000 đồng một đầu người có tô canh, rau xào, thịt heo kho, thịt heo luộc, cơm trắng và nước trà miễn phí ! Tô phở bò to, bánh phở tươi chỉ có chẵn 30.000 đồng.

Hoa cà phê mầu trắng ngà nở trong nắng cháy. Photo: MTT 2015

Đoạn đường gần đến cửa ngõ Buôn Mê Thuột, nay đã lên cấp thành phố, đã làm xong mặt đường nhựa, xe lướt vào êm ru. Trước mắt tôi là một đại lộ, ánh đèn đường sáng trưng, rồi đèn nhà, đèn quảng cáo sáng khắp nơi, tôi ngạc nhiên nhìn một „thành phố“ mới, hiện đại, đã lột xác từ một buôn làng. Vâng trăng rằm Nguyên Tiêu sáng tròn vằng vặc trên bầu trời xanh đen, chung quanh là mọi vì sao sáng nhấp nháy trong gió núi thổi mát rượi.Ở Hà Nội chúng tôi chẳng thấy trăng mà cũng chẳng thấy sao đâu cả, chỉ thấy màn mây dày che phủ cả bầu trời. Ở miền Trung lác đác vài ngôi sao sáng hiện ra, đặc biệt có ngôi sao chỉ hướng Nam là hiện sáng nhất. Còn ỏ Tây Nguyên thì sáng trăng, sáng tất cả các vì sao sáng cả trời đêm.

Một GRU Tây Nguyên, dũng mãnh, oai hùng. Photo: Trần Tấn Vịnh, Heritage Fashion, Vietnam Airlines, số 3-4.2015.

Sáng sớm hôm sau, mới 5 giờ sáng, loa phóng thanh đọc các bản tin thời sự đánh thức tôi dậy ăn sáng. Mới bảy giờ đã thấy nóng chảy mồ hôi, đến trưa thì nhiệt độ lên đến 38°, ánh nắng như thiêu đốt cháy da cháy thịt, nhức đầu, hoa mắt. Trăng Tây Nguyên đẹp chừng nào thì nắng Tây Nguyên nóng chừng ấy. Đồng ruộng khô cháy, nứt nẻ nhiều nơi. Vào vườn cà phê, nhìn những cây cà phê lá dài bản hẹp mầu xanh lá cây đậm rũ xuống, ngọn lá chĩa xuống đất, mới thấy lá cà phê thông minh tránh nắng, để cho hoa cà phê trắng ngà nở trong nắng, đất dưới chân cà phê đỏ như mầu máu, đỏ như mầu nắng cháy. Tây Nguyên đang trong mùa hạn hán, thiếu nước sinh hoạt, nước cho đồng ruộng vườn tược, tình hình căng thẳng luôn cho các ruộng trồng hoa màu như ruộng lúa, ruộng mía, nguy cơ thất thu khá lớn, người dân Tây Nguyên lo lắng bối rối không biết tìm nước ở đâu. 1). Hiện nay tỉnh Đắk Lắk có gần 1.8 triệu dân định cư (thống kê 2009) của 40 dân tộc chung sống, đông nhất là người Kinh, rồi đến người Ê Đê.

Chúng tôi vào Buôn Đôn xem cho biết cách làm du lịch của người Tây Nguyên. Bản Đôn cũng ngập chìm trong nắng nóng. Dòng sông SêRêPok chảy dọc Buôn Đôn gần như hết nước, mực nước giảm cả đên 4, 5 thước, lòng sông lộ ra trỏng chơ dưới nắng. Đàn cò trắng tụ tập hết vào giữa lòng sông, nơi còn có ít nước, phía bên Vườn Quốc gia bên kia sông. Người Buôn Đôn, nhất là người gốc Lào có tài thuần voi, khiến cho voi chăm chỉ làm việc, kéo gỗ, khuân gỗ, chuyên chở người và hàng nặng… Người Mnông gọi những người thợ săn bắt voi rừng và thuần dưỡng voi là gru, như gru Ama Kông, một trong những “vua voi” nổi tiếng nhất. Gru ngồi trên đầu voi, cầm cái dùi móc (kreo), vật bất ly thân của gru, để điều khiển voi, người thợ phụ (gọi là rmắc) ngồi phía sau, cầm cái kuk để thúc con voi. Các gru luôn mặc trang phục truyền thống rất đẹp, áo “đại bàng dang cánh” dệt bằng thổ cẩm mầu đen trang trí hoa văn Kteh Mnga, có một mảng sợi dày mầu đỏ rực trước ngực, quấn khăn trên đầu, cầm kreo và tù và trên tay, dây buộc voi quấn ngang trên cổ, xem rất dũng mãnh và quắc thước, đúng là người hùng của rừng xanh ! 2)

Một “ông” voi phục vụ du lịch ở Buôn Đôn. Photo: MTT 2015

Nhìn hai con voi đi loanh quanh chầm chậm trong Buôn Đôn chồng tôi lắc đầu không chịu cưỡi voi, bảo, nặng kí quá, leo lên ngồi thì tội nghiệp voi, nên chúng tôi không cưỡi, chỉ đứng chụp ảnh và nhìn voi ăn bó mía của du khách thưởng cho voi sau chuyến phục vụ. Hôm sau đọc báo được tin con voi già 40 tuổi chết khi đang phục vụ du lịch, chúng tôi bảo nhau, may sao là không phải mình quá nặng kí làm chết voi ! Chủ voi và buôn làng làm lễ cúng voi theo phong tục truyền thống. 3)

Đi qua các cầu treo đong đưa như đi trên võng, đến các nơi dừng chân, thì chúng tôi thất vọng vì hoàn toàn không có sinh hoạt văn nghệ gì cả, không có giao lưu văn hóa cồng chiêng, cũng không có nhà hàng đặc sản, cũng không có hướng dẫn trekking rừng đại ngàn…như trong quảng cáo du lịch. Chụp vài cái ảnh rồi đi về, chấm dứt cuộc viếng thăm Buôn Đôn ngắn ngủi. Nắng quá.

Cầu treo ở Buôn Đôn. Photo: MTT 2015

Một cô cháu phê chúng tôi rằng, các bác chỉ đi cưỡi ngựa xem hoa, chứ không hiểu gì về văn hóa Ê Đê của người đồng bào trên Buôn Mê. Dân tộc Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, người phụ nữ chủ nhà có chỗ ngồi danh dự trong nhà mình, bên bếp lửa. Nhiều gia đình Ê Đê đã giầu có lên, buôn làng trở thành những khu phố khang trang, hiện đại, họ xây nhà mới bằng bê tông, gạch ngói phía sau hay bên cạnh, và giữ ngôi nhà truyền thống cũ có hình dáng như một cái thuyền gỗ dài làm kỷ niệm phía trước.

Dọc đường về, đi ngang qua các vườn cà phê to nhỏ đủ cỡ, hoa cà phê đang nở trắng, nhưng có cây đã ra hạt xanh, mùa thu hoạch cà phê là từ tháng mười hàng năm cho đến hết tháng một tây… Trung tâm thành phố rất khang trang, nhiều nhà đẹp, viện bảo tàng xây ngay bên cạnh Biệt Điện của vua Bảo Đại khá đồ sộ và khá đẹp, theo kiến trúc văn hóa sở tại. Nơi đây, mọi người đang tấp nập dựng sân khấu và những gian hàng trưng bày cho lễ hội cà phê sắp diễn ra. Tiếc là chúng tôi lại đi trước ngày lễ hội. Có điều, tôi lại không mua một gói cà phê nào cả vì giá bán cà phê trực tiếp ở Buôn Ma Thuột quá đắt, so với mức giá bán cà phê tiêu thụ bình thường ở châu Âu, phần thì trọng lượng hành lý du lịch cũng bị hạn chế.

Đêm ở Buôn Ma Thuột rất mát khi gió núi nổi lên, dễ chịu nên thành phố nhấp nháy đèn đủ mầu sắc, nhộn nhịp người đi ăn uống, đi chơi, tiếng nhạc karaoke, nhạc sống vang lên ở nhiều nơi. Một số tiệm ăn ngon, sạch sẽ, giá cả phải chăng đủ tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch và khách nước ngoài. Tiếc là chúng tôi tạm trú trong một khách sạn trong trung tâm thành phố mà nội thất đã cũ kỹ, chăn, nệm gối khăn đều rất cũ, giá lại khá đắt, dịch vụ kém, nên lần sau sẽ không trở lại địa chỉ này.

Chúng tôi rời Buôn Mê Thuột bằng máy bay, tại phi trường mới xây dựng theo tiêu chuẩn hiện đại mới tinh, sạch sẽ, chúng tôi chứng kiến một việc đáng buồn. Một đôi „vợ chồng“ trẻ đem một đứa con gái 15 tháng về Bắc, đi chuyến bay Buôn Ma Thuột-Hà Nội, không được cho lên máy bay vì lý do cháu bé chưa có khai sinh, mẹ cháu chỉ có giấy chứng sinh, và cha mẹ cháu chưa cưới nhau, chưa làm hôn thú, và vì người cha nghe lời bố, ông nội của cháu, chờ chuyến này đem cháu về quê ngoài Bắc thì mới làm khai sinh cho cháu. Cháu bé rất xinh xắn, dễ ghét, đã được cha và mẹ đặt tên là Trần Lê Bảo Ngọc. Hai người trẻ thay phiên nhau năn nỉ hết nhân viên này đến nhân viên khác, nhưng họ vẫn lạnh lùng từ chối. Cô gái khóc, chúng cháu ở cách Buôn Mê 80 cây số, Ở Gia Nghĩa, đi xe bus hơn ba tiếng mới đến được tận phi trường, hai vé mua của Vietjet Air không đổi ngày đi được, cũng không được hoàn trả, thế là mất 2 triệu tiền vé cô ạ.
Cuối cùng, cái gia đình nhỏ ba người ấy, với cháu bé xinh xắn, đành phải thuê taxi trở về thành phố để sáng sớm mai đón xe bus từ Buôn Ma Thuột ra tận Hà Nội. Chúng tôi hỏi nhau, tại sao những nhân viên Vietjet Air và nhân viên check-in của phi trường Buôn Ma Thuột lại vô cảm đến thế, hành hạ một gia đình trẻ với đứa con còn rất nhỏ ?! Nắng Tây Nguyên và trăng Tây Nguyên bỗng hết đẹp. MTT

MTT_BMT_107

Cháu bé Trần Lê Bảo Ngọc, 15 tháng, không được lên máy bay của Vietjet Air tại phi trường Buôn Ma Thuột, phải đi xe khách từ Buôn Ma Thuột ra tận Hà Nội, một đoạn đường rất dài, khoảng 1.600 cây số, ngồi xe nhọc nhằn hai đêm ba ngày mới đến. Photo Mathilde Tuyết Trần, Buôn Ma Thuột 2015

Trăng rằm Nguyên Tiêu của mùa Tết Ất Mùi 2015 đang lên trên bầu trời Buôn Ma Thuột, ở một độ cao là 536 mét so với mặt nước biển, giờ đã là một thành phố lớn cấp 1, hiện đại, sống động với gần 350.000 dân định cư trong thành phố, thủ phủ của tỉnh Đắk Lắk, Tây Nguyên. Buôn Ma Thuột cách Hà Nội khoảng 1.500 km đường bộ, cách thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) 380 km đường bộ. Photo: Mathilde Tuyet Tran, BMT 2015, nhìn từ một khách sạn trong trung tâm thành phố

Dưới bóng cây Kơnia ở Buôn Đôn. Photo: MTT 2015

Chú thích:
1) Bài Cà phê, hoa màu Tây Nguyên gặp hạn nặng“, báo Tuổi Trẻ ngày 08.03.2015.
2) Bài Trang phục của GRU, Trần Tấn Vịnh, Heritage Fashion, Vietnam Airlines,

    số 3-4.2015.
3) Bài „Voi chết khi đang phục vụ du lịch“, báo Tuổi Trẻ ngày 09.03.2015

Giới thiệu sách « Vũ trụ huyền diệu »

7. janvier 2021

Giới thiệu sách (cập nhật lần cuối ngày 24.10.2011)- ©Mathilde Tuyết Trần

VŨ TRỤ HUYỀN DIỆU của Giáo sư Nguyễn Quang Riệu, Đài thiên văn Paris

Nhà xuất bản Thanh Niên, 2008

Tôi thích ngắm sao trời ban đêm, mỗi khi có dịp. Cũng như nhiều người, trời chập choạng tối là chui rúc vào nhà ấm cúng, mặc áo len, đi vớ, cửa đóng then gài, có thấy đâu trăng sao trên trời. Thỉnh thoảng đi đâu về khuya, mới ngẩng đầu nhìn trời nhìn sao. Ở nhà quê, những đêm lạnh giá tháng hai là những đêm sáng sao nhất. Ngàn vì sao giăng mắc chằng chịt sáng lấp lánh xa xa. Nhiều lắm, đếm không hết.

Ngắm sao, mới tri thức rằng mình đang đứng trên trái đất thân yêu. Nhà ở hướng nam nên tôi chỉ nhận ra được ngôi sao Nam (l´étoile du Sud), thường sáng hơn những vì sao khác, và hai chùm sao quen thuộc: der große Bär (Gấu to) và der kleine Bär (Gấu nhỏ), ngoài ra thì mù tịt, một ông sao sáng, hai ông sáng sao…, xít xoa, đêm nay sao sáng quá! Đó là đôi mắt „trần“ và „ngoại đạo“ của tôi.

Còn đôi mắt của Giáo Sư Nguyễn Quang Riệu thì thật là đặc biệt. Vì thế khi thấy cuốn sách với tựa đề rất hấp dẫn „VŨ TRỤ HUYỀN DIỆU„ như đề tựa của một quyển tiểu thuyết, của Giáo sư Riệu là tôi không ngăn được sự tò mò trỗi dậy, thỉnh về nhà đọc ngay.

Thú thật, đọc được mấy chục trang đầu, tôi phải đọc ngược, tức là đọc những trang cuối trước, phần „Chú giải thuật ngữ“ về các khái niệm kỹ thuật trong khoa học thiên văn và vật lý. Chủ đề nghe thì thơ mộng, nhưng bản chất của đề tài là khoa học, với những giải thích gần gũi với đời sống hàng ngày của chúng ta, nhưng những người như tôi, phải học trước những khái niệm chuyên môn thì mới hiểu phần nào về thiên văn học.

Đây là một điểm mạnh của cuốn sách, vì một nhà nghiên cứu khoa học như Giáo Sư Nguyễn Quang Riệu, làm việc hầu như suốt một đời người bằng tiếng Pháp, công việc truyền lại kinh nghiệm khoa học bằng tiếng Việt, một cách trôi chẩy nhẹ nhàng, không phải là chuyện dễ làm và tất nhiên.

Đôi khi tôi phải vật lộn với mấy cuốn tự điển để tìm ra một khái niệm tiếng Việt tương ứng với tiếng Pháp, tiếng Đức hay tiếng Anh, nhất là các khái niệm chuyên môn trong khoa học kỹ thuật hay khoa học nhân văn. Cho nên, trong cuốn sách của Giáo sư Nguyễn Quang Riệu người đọc sẽ tìm thấy những khái niệm mới làm giầu thêm, phong phú thêm cho tiếng Việt.

Cuốn sách của Giáo sư Nguyễn Quang Riệu, ngoài ưu điểm về khía cạnh ngôn ngữ, cung cấp cho người đọc một số lượng kiến thức cơ bản về khoa thiên văn học và vật lý, để mỗi khi ngắm sao thì nhớ lại những điều….kỹ thuật, những bí ẩn thiên nhiên của các vì sao.

Trong một lá thơ viết với nhiều thông cảm, Giáo sư tâm sự:  » Cuốn sách này được viết vừa để phổ biến ngành khoa học nghiên cứu bầu trời cho nhiều độc giả, vừa để trình bầy tâm tư của một người khoa học nghiên cứu như tôi. Tôi đã cố gắng phối hợp hai mục tiêu, nhưng có những phần, tuy đã được đơn giản hóa, nhưng có thể vẫn còn phức tạp đối với những độc giả không chuyên ngành. Những chương trong sách thường độc lập với nhau và những giai thoại xen kẽ với những vấn đề khoa học. Độc giả có thể „nhảy cóc“ những đoạn nào quá chuyên môn và thưởng thức những giai thoại miêu tả tâm tình và đời sống của những nhà thiên văn khi phiêu lưu thiên hạ. »

Nhưng. Vừa đọc vừa ghen tị với Giáo sư vì những chuyến đi nhiều nơi trên thế giới của Giáo sư, qua những đoạn hồi ký, tôi ham đi lắm nhưng không có dịp, vì những phương tiện kỹ thuật hiện đại, tối tân để khảo sát, quan sát bầu trời, mà chính Giáo sư viết rằng, như trẻ con được món đồ chơi mới.

Trong phong cách diễn tả, truyền đạt lại những hiểu biết và kinh nghiệm về khoa vật lý thiên văn học, một công việc chuyên môn với những khái niệm khoa học chuyên môn, những dòng chữ của Giáo sư Nguyễn Quang Riệu sáng lấp lánh một chút thơ, một chút ý nhị, hóm hỉnh, một sự vui thích trẻ trung của người viết, chứng tỏ Giáo sư rất yêu thích vũ trụ và công việc của mình. Đây cũng là một điểm đặc biệt của cuốn sách, mà tôi xin trân trọng giới thiệu với các bạn.

Du Big Bang à la naissance des étoiles et à la recherche de la vie dans l’Univers
Nguyễn Quang Riệu, Directeur de Recherche émérite au CNRS (Observatoire de Paris)

L’observation du Cosmos a fait partie intégrante de la civilisation des peuples depuis la plus haute antiquité. L’avènement des grands télescopes et radiotélescopes et le développement de la physique moderne ont permis à l’astronomie de faire un grand bond en avant dans l’étude de l’Univers. C’est ainsi que la théorie du Big Bang, après des ajustements successifs, a servi de base à la cosmologie qui est la branche de l’astrophysique étudiant l’origine et l’évolution de l’Univers. Il s’avère que l’Univers est presque totalement invisible ! Ce n’est qu’un océan d’énergie et de matière que l’on ne peut pas « voir ». La matière visible constituée d’atomes et de molécules et détectée par les télescopes sous forme de galaxies et d’étoiles, ne représente que ~ 5% du contenu énergétique de tout l’Univers.

Les étoiles naissent et meurent comme les hommes sur la Terre. Leur longévité dépend de la façon dont elles consomment leur énergie, les plus grosses ont une durée de vie plus courte et finissent brutalement leur vie en explosant. Les étoiles et les galaxies nous envoient non seulement la lumière mais aussi les signaux radio. Elles sont si lointaines que leur lumière est aussi faible que la flamme d’une bougie placée sur la Lune et observée depuis la Terre. Quant à leur émission radio, elle est au moins quelque dix mille fois plus faible que les signaux radio que nous captons dans nos postes radio.

Des éléments chimiques très variés, de l’atome le plus simple, l’hydrogène, aux molécules organiques complexes comme l’alcool et le sucre etc…, voire le diamant incrusté dans des grains de poussière, ont été détectés dans La Voie Lactée. Des astronomes y recherchent activement des acides aminés qui sont les constituants fondamentaux des protéines. Il est possible que les processus biologiques qui ont engendré les premières formes de vie sur la Terre, aient pu aussi se réaliser sur d’autres planètes du système solaire. La vie telle que l’on conçoit sur terre ne peut exister sur le Soleil et sur les étoiles, car ces astres sont brûlants. Elle ne pourrait subsister que sur les planètes où la température est plus modérée. Des engins spatiaux ont déjà déposé des robots sur la planète Mars et sur Titan (un des satellites de la planète Saturne) pour tenter d’y détecter des traces de vie. Notre système solaire ne possède que huit planètes. Des méthodes récentes d’observation très élaborées ont été utilisées pour découvrir des planètes dans d’autres systèmes stellaires. Dans l’espace d’une dizaine d’années, près de trois cents planètes « extrasolaires » (planètes en dehors du système solaire) ont été détectées, certaines d’entre elles pourraient ressembler à notre planète Terre et possèderaient un environnement susceptible d’abriter des formes de vie. La détection de planètes extrasolaires constitue une condition préalable à la recherche de la vie extraterrestre.

Les distances qui séparent les systèmes stellaires sont tellement immenses que l’exploration de la Voie Lactée par des engins spatiaux en vue de détecter la vie extraterrestre s’avère quasiment impossible. Même les signaux radio qui se propagent à la vitesse de la lumière et qui sont émis par des civilisations extraterrestres les plus proches – s’il en existe – devraient mettre des centaines, voire des milliers d’années, pour parvenir jusqu’à nous. Des campagnes d’observation d’envergure pour détecter de tels signaux à l’aide de l’un des plus grands radiotélescopes du monde, restent jusqu’à présent infructueuses. Sommes nous ainsi la seule civilisation dans l’Univers ?

Tin buồn Nguyễn Quang Riệu

7. janvier 2021

Sáng nay tôi đọc báo Tuổi Trẻ đập vào mắt là tin anh Nguyễn Quang Riệu vừa qua đời vì Covid 19. Giật mình. Thời gian trôi đi quá nhanh, tưởng như mới hôm nào được anh tặng cho cuốn sách Vũ Trụ Huyền Diệu, người đi rồi mới thấy tiếc là không còn được gặp lại. Cảm giác đầu tiên mới tiếp xúc với anh là anh rất cởi mở, vui vẻ, khiêm tốn và chân thành với đàn em, không câu nệ mình đã là một bậc thầy, một khoa học gia tăm tiếng khắp thế giới.

Xin thành kính chia buồn cùng gia đình, tang quyến và cầu chúc anh linh của anh Nguyễn Quang Riệu nhanh chóng thanh thoát tiêu diêu nơi cõi vĩnh hằng, bước vào một Vũ Trụ Huyền Diệu vĩnh cửu của anh.

Mathilde Tuyết Trần

Giáo sư Nguyễn Quang Riệu, sinh năm 1932, từ trần ngày 05 tháng 01 năm 2021 tại Paris, thọ 89 tuổi

(ảnh của Diễn Đàn)

Khác nhau và giống nhau

5. janvier 2021

Khác nhau và giống nhau – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong bài viết này tôi viết về cái nhìn chủ quan của tôi về việc khác nhau và giống nhau giữa người trẻ sinh đẻ ở nước ngoài và người trẻ sinh đẻ trong nước, lấy thí dụ trường hợp sinh sống ở Đức.

Những người trẻ trong nước bây giờ sang nước ngoài du học có một điểm nổi bật giông giống như thế hệ sinh viên ra đi ngày xưa của những năm 1950, 1960 và 1970. Thời đó phải là con ông cháu cha mới được đi du học tự túc sang Mỹ, sang Pháp, sang Anh, Thụy Sĩ, Bỉ, Canada, Nhật, Ý…và phải có bằng Tú Tài II ít nhất là hạng Bình trở lên, thêm một chứng chỉ ngoại ngữ của quốc gia mình muốn đến.

Tự túc có nghĩa là gia đình cấp tiền cho con đi ra nước ngoài ăn học, tiền ăn ở và tiền học phí. Nộp đơn lên bộ Giáo dục, chờ xét đơn, thấy tên mình trong danh sách được đi thì mừng hết lớn, đi mua vé máy bay „aller simple“ không có ngày về, rồi sửa soạn vali, thế là bay, đi. Một số ít được cấp học bổng đi du học. Thế hệ này sinh ra ở trong nước, lớn lên dưới sự chăm lo dạy bảo của bố mẹ đến năm 18, 19, 20 tuổi.

Sinh viên Việt Nam bây giờ đi từ Việt Nam cũng thế, về kinh tế có gia đình ở Việt Nam chăm lo, hay thuộc diện học bổng, ít có khó khăn, chỉ phải học. Đó là lợi điểm đầu tiên.

Trong khi đó thế hệ 2 của thế hệ 1 sàn xuất trực tiếp tại các nước đi du học, phải nói là có những trường hợp đa dạng hơn, Các cháu sinh ra, lớn lên trong một môi trường hoàn toàn „lạ“, bắt đầu một đời sống mới khác hẳn cha mẹ, nếu ở Đức, từ lúc đi Kindergarten, Vorklassen cho đến sáu tuổi vào trường tiểu học Grundschule, rồi 11, 12 tuổi lên học Gymnasien, Gesamtschulen hay Hauptschulen, Realschulen.

Các cháu nói tiếng Đức như trẻ con Đức, nhiều khi cha mẹ không nói tiếng Đức được như các cháu, giọng nói cũng khác, cách đặt câu cũng khác, không theo kịp con. Nếu ở nhà cha mẹ chỉ nói tiếng Việt với con, thường khi đến một lúc nào đó thì „buông“, vì con chỉ nói tiếng Đức.

Cùng với sự phát triển ngôn ngữ là sự phát triển tư duy. Mười tám năm lớn lên trong gia đình ở Việt Nam, hấp thụ văn hóa và truyền thống đã cho chúng ta một nền tảng không thay đổi, chúng ta là người Việt Nam dù sống ở nước ngoài năm, sáu chục năm cho đến chết.

Mình có đặt mình vào hoàn cảnh những đứa con của mình không ? Những đứa trẻ bị giằng co bởi sự khác biệt về thể chất, về xã hội, về gia đình. Gia đình người Việt, cha mẹ sinh hoạt, bạn bè, đi chơi giải trí…theo kiểu thuần Việt như có thể, rất ít bạn bè nước sở tại, quan hệ hời hợt, không hay thiếu hội nhập.

Chúng ta tự làm cho mình thành những thành phần lạ trong xã hội sở tại, vì không cần hội nhập chúng ta vẫn sống được, sống tốt nữa là khác…Nhiều người ra trường, có công ăn việc làm địa vị, nào là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chủ nhà hàng…. hơn hẳn người Đức sở tại, về hưu cũng có một đời sống khá hơn, sung túc hơn, viên mãn.

Nhưng con cháu chúng ta, từ khi đi học, chúng đã tiếp xúc với xã hội Đức, chúng đã phải đối phó với những vấn đề bạo lực học đường, kỳ thị, ma túy bạn bè dụ dỗ…. Tôi nhớ dạo con tôi 13 tuổi, một viên LSD chỉ có 6 DM, bán ngay tại trường học.

Có trẻ may mắn hơn, không hề bị những vấn đề trên cản trở đường học vấn. Có trẻ, nhất là trẻ châu Á, thường bị bạn bè trêu ghẹo, châm chọc, ghét bỏ vì bị cho là „Streber“…  Cha mẹ người Việt thường chú trọng một cách thái quá đến sự học của con, không ít người đặt những hoài bão mà mình không làm được tiếp tục lên con mình, phải ra trường thành luật sư, kỹ sư, bác sĩ …có địa vị trong xã hội sở tại, phải là „công dân hạng A“ mới đáng là con mình. Sức ép của cha mẹ nếu phát huy được tác dụng thì tốt, không được thì thất vọng cho cả hai bên cha mẹ lẫn con cái.

Trong thời đại toàn cầu hóa, các nước tân tiến lại thực hiện kinh tế di dời, chuyển đổi cơ sở sản xuất qua những nước khác để phát sinh ra thực trạng thất nghiệp ở nước mình, đồng thời chiến tranh ở khu vực Trung Đông khiến cho cả triệu người đi di tản đổ ập đến châu Âu, gây ra một loạt các hiệu ứng khác, trong đó có việc chống đối di tản, cụ thể là người di tản. Vấn đề Immigration (di tản) nổi lên, chúng ta không nên quên rằng định cư, sinh sống lập nghiệp ở một nước khác không cũng một ngôn ngữ với mình là thuộc về Immigration, mà chúng ta là những người nhập cư (les immigrés) theo định nghĩa hành chánh, dù có quốc tịch (nhập tịch).

Nếu có mảnh bằng tú tài rồi, các cháu đi tiếp, một vấn đề mới đặt ra cho các cháu, cho cha mẹ là „tự lập“.

Nếu khi trước, người cha đi làm một mình, đủ sức để nuôi vợ ở nhà nội trợ và con cái, thì nay chuyện con phải đi học xa, chọn trường, chọn ngành lại gây ra tốn kém, các cháu phải tính tới bước kiếm thêm tiền để ăn học, đỡ đần cho kinh tế gia đình. Dần dà, những hoàn cảnh, những cá tính, những sở thích, sở trường và sở đoản rất riêng tư được hình thành, những suy nghĩ khác đã được đặt ra, không theo đuổi bậc đại học nữa, mà theo con đường học nghề, âu cũng là một điều hay.

Những cháu đã tốt nghiệp đại học, nếu ai tìm được việc làm ngay thì người đó có „duyên“ được Trời cho, được đời ưu đãi, may mắn, còn không thì…thất nghiệp.

Thêm vào đó, chuyện tình yêu đôi lứa của các cháu là những chuyện mà thế hệ cha mẹ „khó bàn“, miễn bàn. Các quan niệm về hạnh phúc, tình dục, về giới tính, về hôn nhân, về gia đình rất khác với chúng ta, nhất là khi các cháu bị ảnh hưởng của đời sống của cha mẹ, ly dị, tái kết hôn…

Tựu chung, các cháu sinh đẻ ở nước ngoài, thế hệ 2 năm nay đã trên 40 tuổi, phần lớn từ 30 đến 40 tuổi, lại đã sản sinh ra thế hệ thứ ba từ 1 đến 20 tuổi, có một đời sống khác hẳn cha mẹ, vốn sinh ra ở Việt Nam, các cháu phải sống với những may rủi, với hoàn cảnh hiện tại của xã hội sở tại.

Về tinh thần, không thể trách các cháu là „như Đức“ được, cách suy nghĩ, cách lý luận, tư duy tự do hơn, khác chúng ta nhiều lắm. Chỉ nội cách xưng hô „Mama, du….und…ich...“ đã thể hiện một sự bình đẳng, không như cách xưng „con“ đối với cha mẹ của người Việt. Đối với các cháu đã trưởng thành, cha mẹ lại càng không thể áp đặt một điều gì, không có ảnh hưởng, cha mẹ chỉ có thể trợ giúp trong mọi trường hợp, mọi tình huống, mọi thay đổi của cuộc đời mà thôi. Bình đẳng trong quan hệ cũng có nghĩa là cha mẹ nên tôn trọng con cái, không xem con cái từ bé đến già là „dưới quyền“ của mình.

Xuyên suốt chương trình học từ nhỏ, các cháu học lịch sử, địa lý, văn học của châu Âu, của nước sở tại, đọc sách và hấp thụ văn hóa Anh, Pháp, Đức …không biết một chút nào về quê hương của cha mẹ. Tôi có một đứa con gái sinh đẻ và lớn lên ở Đức, theo mẹ về Việt Nam, ở lại ba năm, tốt nghiệp hạng ưu trường múa Thành phố Hồ Chí Minh, ra trường, cháu không muốn múa may quay cuồng làm phông cho ca sĩ hát, lại thêm một mối tình dang dở với chàng thanh niên đất Việt mà lại theo Mỹ, không muốn sang châu Âu sinh sống, thế nên nó trở về Pháp, đi lòng vòng quanh thế giới, rồi lại trở về….Đức. Đó chỉ là một thí dụ của một cá nhân, nhưng nói lên tầm quan trọng nơi chốn mình sinh ra và lớn lên thời niên thiếu. Cái gì cũng vậy, có người nọ người kia, nếu có ai hòa nhập, thích hợp được với môi trường xã hội ở Việt Nam, về nước làm việc đóng góp sinh sống thì xin hoan hô cả hai tay.

Vấn đề „Identität“ (nguồn gốc) chỉ có người ngoài nhìn vào cho là lớn, đối với các cháu thì không. Lo vật lộn với xã hội Đức để kiếm ăn cho gia đình, con cái, vợ chồng, ít người có thì giờ rảnh rỗi để nghĩ đến „Problemen“ đó mỗi ngày. Tôi nghĩ rằng, các cháu có ý thức mình có gốc Việt Nam, thích ăn bánh chưng, chả giò, gỏi cuốn mẹ làm, biết về Tết, phong tục lì xì, chưng hoa, cúng giỗ trong gia đình…, thậm chí thấy cha hay mẹ gần chết, cũng lo xin một tấm ảnh đẹp của cha mẹ và ông bà, học…lập bàn thờ, và truyền lại những điểm ấy cho con của mình. Các cháu biết ông biết bà là người Việt Nam, mình cũng có …chút xíu gốc Việt Nam. Đó là điểm giống nhau với những người trẻ ra đi từ Việt Nam đến Đức ăn học. MTT

Chuyện cái bánh của ba vua „galette des Rois“

3. janvier 2021

Chuyện cái bánh của ba vua „galette des Rois“ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Cứ theo truyền thuyết đã được thi vị hóa và tiểu thuyết hóa thì ba vua Balthasar vua Ấn Độ, Melchior vua Ba Tư và Gaspar vua Ả Rập đã theo một ngôi sao dẫn đường đến hang đá ở Bethlehem có lừa và ngựa, có Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, có Marie và Joseph để dâng lễ vật vàng, nhũ hương và mộc dược….

Từ trong truyền thuyết tôi bước ra để trở lại trong tâm tưởng với thành phố Köln, có dòng sông Rhein, có thánh đường Dom, có cầu xe lửa, có những bảo tàng viện, có hai con đường và quảng trường Barbarossa khắc ghi mãi mãi trong tâm khảm tôi…Làm sao tôi quên được …

Đứng dựa vào lan can bên bờ sông Rhein, màn đêm dần xuống, nắng chiều một ngày đầu tháng bẩy đã tắt, cái nắng nóng ngày hè trở nên dịu mát, người đàn ông quàng tay vói người đàn bà xoay lại, ôm gọn vào lòng, thầm thì bên tai „Anh yêu em“……dòng nước đục vẫn chảy nhanh, trên cầu Hohenzollern một chuyến xe lửa xình xịch từ từ chạy qua, người đi dạo bờ sông hóng mát, người chạy bộ thể thao…quang cảnh chung quanh không còn hiện hữu khi hai người hôn nhau, cái hôn đầu tiên đánh dấu một quãng đời mới…

Có lẽ, tôi sẽ trở lại thành phố Köln khi nạn dịch Covid tạm qua để dạo chơi những nỗi niềm kỷ niệm, nhưng cũng để thăm thánh đường Dom, nơi cất giữ hài cốt của ba vua từ thế kỷ thứ XII. Đã nhiều lần con người ngoại đạo là tôi tìm nơi trú ẩn, an ủi trong sự im lặng trang nghiêm của thánh đường Dom.

Hoàng đế Friedrich I. Barbarossa

Vua Friedrich I. Barbarossa (vua Friedrich râu đỏ) đã giao cho đức tổng giám mục Köln ngày 09.06.1164 gìn giữ hài cốt của ba vua, vào thời điểm đó hài cốt ba vua đang trên đường từ Vercelli gần Mailand về Köln, với lý do tìm một chỗ gởi gấm chắc chắn. Ngày 24.07.1164 thì hài cốt đến Köln, một thánh lễ trọng thể được cử hành để đón nhận món quà vô giá này.

Trải qua bao nhiêu biến cố theo thời gian, chiến tranh, thay đổi nhiều lần chỗ đặt, cất giữ, Kölner Dom vẫn là nơi lưu giữ hài cốt của ba vua đặt trong một cái linh cửu do ông thợ vàng Nikolaus von Verdun sáng chế vào khoảng năm 1190 – 1225.

Hai tư liệu lịch sử của thế kỷ thứ XIII chứng nhận đức tổng giám mục giáo phận Köln tên Philipp von Heinsberg đã đặt hài cốt ba vua vào linh cữu. Vào dịp kỷ niệm 700 năm, vào ngày 21.07.1864, linh cữu được mở ra trước 35 nhân chứng, các hài cốt còn các mảnh vải liệm quấn chặt được xác định là loại vải của vùng Syrie ở vào khoảng từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ VI.

Linh cữu bọc vàng thờ ba vua trong thánh đường Dom thành phố Köln

Linh cữu này cao hai tầng như một thánh đường, bên trong bằng gỗ sồi, bên ngoài bọc vàng ròng, bề ngang 110 cm, bề cao 153 cm, bề dài 220 cm và nặng 500 kí lô. Từ năm 1961 đến năm 1973 được tân trang lại với bàn tay tinh xảo của ba người thợ vàng, riêng năm 1964 họ phải cần đến 9 kí vàng ròng, 15 kí bạc. Ngoài ra trước đó vào những năm 50 họ đã phải mua thêm 2,5 kí vàng ròng, 4,4 kí bạc, hơn 700 hột perles, 230 viên đá quý, 100 đá quý điêu khắc.

Dân Pháp mừng lễ ba vua với một cái bánh gọi là galette des Rois, bán ngay sau Noel vì ngày lễ là ngày 06.01. hàng năm. Có một cô gái được mẹ sinh ra đúng ngày lễ ba vua, nên bánh sinh nhật của cô cũng là một cái galette des Rois.

Bánh này rất được dân chúng ưa chuộng, làm niềm vui cho những tiệm bánh có thu nhập thêm trong mùa dịch Covid, người ta xếp hàng dài trên đường phố lạnh lẽo, dưới mưa vì theo quy luật dịch Covid, chỉ hai hay ba khách hàng được bước vào bên trong của tiệm, để chờ tới phiên mình mua bánh. Mỗi năm các cửa tiệm bán được 30 triệu cái bánh galette des Rois, điều khiến cho con số doanh thâu của tháng một tăng vượt lên 30 – 40% so với tháng bình thường.

Theo phong tục của Pháp, trong bánh có dấu một vật trang trí nhỏ bằng sứ, khi cắt bánh chia bánh, ai khám phá được vật dấu đó thì được làm vua, được gắn cái vương niệm lên đầu, cho nên cả con nít cũng thích ăn bánh để được làm vua. Nhưng coi chừng cắn phải đồ sứ gẫy răng!

Đây là công thức làm bánh galette des Rois truyền thống với nhân bánh là frangipane (hạnh nhân), rất dễ làm:

Nguyên liệu:

  • hai cái vỏ bánh pâte feuilletée hình tròn đường kính khoảng từ 26 – 28 cm

  • 2 trứng

  • 80 gram đường

  • 140 gram hạt hạnh nhân (amandes) xay nhuyễn

  • 100 bơ mặn để mềm

  • rượu Rhum, 2 muỗng canh

  • 1 trứng và một nửa thia cà phê nước để riêng

  1. Đánh hai trứng + đường + bơ + hạnh nhân cho đều với nhau, rồi cho rượu Rhum vào trộn đều, xong để hỗn hợp này (crème frangipane) nghỉ vài phút.

  2. Đặt một vỏ bánh thứ nhất trực tiếp trên giấy nướng lên vỉ sắt, dùng nĩa chọc nhiều lỗ vào vỏ bánh.

  3. Trét nhẹ tay nhân lên bánh cho đều.

  4. Đậy vỏ bánh thứ hai lên nhân, ấn nhẹ tay ngoài rìa cho dính vào nhau.

  5. Quậy cái trứng còn lại với nước cho nhuyễn rồi dùng cọ bôi đều lên mặt bánh.

  6. Lấy một con dao đầu nhọn sắc để khứa lên bánh những hình trang trí mà mình thích

  7. Đặt bánh vào lò đã làm nóng 200 độ, nướng bánh trong khoảng 30 phút.

  8. Nếu không muốn cho bánh nổi phồng thì khi nướng bánh đặt úp một cái khuôn lên bánh.

Bánh ăn còn ấm rất ngon.

Phí tổn mua nguyên liệu như trên tốn kém chi độ khoảng 7, 8 đồng một cái bánh cho 8 phần. Ở tiệm bán đến những 28 euros. Có tiệm bánh, siêu thị chỉ cần mua bánh làm trong kỹ nghệ đông lạnh sẵn giá mua chỉ có 5 euros, bán lại gấp hai, gấp ba lần cho người tiêu thụ. MTT

Tình và tiền

27. décembre 2020

Tình và tiền – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Có phải là khi yêu nhau mà trái đắng cũng tròn mà bồ hòn cũng ngọt như đường phèn ? Tình yêu là tất cả, tình yêu là trên hết ? Những đôi vợ chồng ít cãi nhau là những đôi vợ chồng hạnh phúc nhất. Cãi nhau vì gì ? Đã có những thống kê của các nhà xã hội học rằng người Pháp cãi nhau trong đời sống lứa đôi thứ nhất là vấn đề tiền bạc, thứ hai là vì con cái, thứ ba là vì vấn đề tình dục, ngoại tình của chồng hay vợ, thứ tư là quan hệ bạn bè cả đôi bên, thứ năm là nhà cửa có ngăn nắp, sạch sẽ hay không….nhưng vấn đề tiền đều bàng bạc trong các vấn đề kia nên nói đến tình thì không thể không nói đến tiền, tiền là trên hết !

Khi xưa, gia đình người Pháp cũng giống như gia đình Việt Nam, hôn nhân là một sự sắp đặt vì kinh tế, của cải thừa kế. Các nhà nghiên cứu về gia phả biết rõ điều này. Trong các sổ hộ tịch còn lưu trữ từ những thế kỷ xa xưa, họ ghi chép tỉ mỉ những của cải của đôi bên đem đến khi chung sống, một cái muỗng, một con bò, một cái áo, một thửa đất, một cái bàn….tất cả đều được tỉ mỉ ghi chép lại. Để chi ? Để khi hôn nhân đứt đoạn thì người nào lấy lại phần người nấy, chia phần có thêm chung trong hôn nhân theo hợp đồng, và thừa kế cho con cháu của mình.

Thời đó, phụ nữ thường hay chết yểu khi còn trẻ, có khi rất trẻ, mới 14, 15, 18, 17 tuổi vì sinh đẻ rất thương tâm, nên các ông thường có mấy đời vợ, mấy đời con, gia đình nào cũng mong muốn có con trai vì đó sẽ là sức lao động chính của gia đình hay là động lực tiến thân trên nấc thang xã hội. Trường hợp chồng già vợ trẻ vì thế thường xảy ra. Có trường hợp ông già 80 chết vì đứng tim trên người cô vợ trẻ mới hai mươi…cũng được ghi chép lại lý do qua đời.

Khi kết hôn là họ đã dự tính trước đời sống chung sẽ ra sao, việc quản lý tiền bạc của gia đình. Nếu người phụ nữ theo mô hình cổ điển và truyền thống đẻ con, nuôi con, dạy con, chợ búa, cơm nước, giặt giũ… thì người chồng chuyển hết cho vợ quyền quản lý kinh tế và tài sản của gia đình, hay ít ra đưa một phần lớn tiền cho vợ quản lý. Việc thực hiện nam nữ bình đẳng vì kinh tế như thế đã được thực hiện bởi hai người trong xã hội qua hôn nhân, tiền là quyền.

Phần lớn những cuộc hôn nhân sắp đặt này lâu bền, các bà vợ nhắm mắt làm ngơ khi các ông có vợ bé, quan trọng nhất là các ông biết giữ thể diện cho người vợ cưới trước và không quá ưu ái về tiền bạc với người trẻ hơn. Hay hai bên thỏa thuận, ai có phần riêng của người nấy, nhưng điều gì chung vẫn giữ.

Song song với trào lưu văn hóa lãng mạn thì vấn đề tình yêu được đề cao, con người trở nên tiêm nhiễm với ý tưởng không thể sống nếu thiếu thốn tình yêu đôi lứa. Thơ, nhạc, kịch nghệ sân khấu rồi đến điện ảnh…không thiếu gì những chuyện tình đôi lứa dở dang, thảm thiết, chia lìa vì thế lực, vì quyền lợi của gia đình đôi bên, Romeo và Juliette là một thí dụ.

Thế hệ ông bà cha mẹ chúng ta vẫn còn những cuộc hôn nhân sắp đặt, môn đăng hộ đối, cha mẹ hứa hẹn gả con cho nhau, con cái phải theo, không được cãi lại. Nhưng kết hôn vì yêu nhau trở nên một vấn đề đương nhiên, tự nhiên của thế hệ chúng ta, là thế hệ chỉ đi theo tiếng gọi của tình yêu bất chấp tất cả ? Các cô gái trẻ mới lớn đến tuổi lấy chồng 17, 18 tuổi ở miền Nam sợ nhất là cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, phải lấy người chồng mình không yêu, dù chưa biết thế nào là yêu, và cảnh phải làm dâu nhà chồng.

Thế hệ con chúng ta lại khác đi nữa theo hoàn cảnh xã hội, nhiều người trẻ sống chung không cưới nhau, thanh niên không lấy vợ, các cô gái không lấy chồng, vấn đề giới tính, đồng tính luyến ái được giới chính trị gia thổi phồng để kiếm phiếu. Chưa bao giờ các vấn đề về tình dục không tình yêu lại nổi lên mạnh mẽ trong xã hội như từ đầu thế kỷ thứ 21, con người biến thể thành những bộ máy tình dục các loại, sa đọa.

Thực trạng cho thấy khi nạn thất nghiệp tăng cao, đời sống trở nên bấp bênh không biết ngày mai sẽ ra sao, kiếm ra được tiền hay bỗng dưng mất công ăn việc làm…kiến cho giới trẻ chùn chân, ngại trách nhiệm, bổn phận phải nuôi một gia đình nhỏ quá nặng nề, nên chẳng thà sống độc thân. Một phần cũng vì cái tự do cá nhân của đời sống độc thân quá lớn, không ai kề cận chỉ trích, phê bình những thói quen, cá tính của mình, không phải chấp nhận thực hiện những giải pháp dung hòa và chia xẻ tiền bạc, vốn đã eo hẹp.

Những vụ án mẹ trẻ đơn thân giết con nhỏ, hay cha dượng bạc đãi, đánh đập còn hơn là tra tấn kẻ thù đối với con riêng của vợ gây chùn chân, chán nản.

Nhiều nhà xã hội học lo lắng cho vấn đề dân số, vấn đề lão hóa và vấn đề cân bằng nam nữ trong một xã hội tương lai. Có những xã hội cấp không cho trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp con cái để khuyến khích sinh đẻ của người bản xứ hay của cả những người nhập cư.

Người Pháp hiện tại rất thực tế. Khi quyết định chung sống với nhau rồi, họ quyết định ở đâu, ở thuê hay mua nhà, ai mua, một người hay cả hai, chế độ hôn nhân tài sản riêng hay tài sản chung bắt đầu từ lúc sống với nhau (dù chưa ký hôn thú chính thức cũng có thế dàn xếp chế độ sống chung), tài khoản nhà băng (của anh, của em, của cả hai ?), ai quản lý tiền bạc chi tiêu hàng tháng, công việc của mỗi người đóng góp cho kinh tế gia đình và để dành cho đứa con đầu lòng…Những chuyện này đều được bàn bạc kỹ lưỡng và thống nhất giữa hai người yêu nhau và thẳng thắn với nhau.

Trước kia tôi hiểu lầm là người Pháp phong lưu lắm, tiếng tăm khắp thế giới là dân Tây ga lăng, phong lưu số một. Nhưng hóa ra các bà đầm trong gia đình giữ chặt hầu bao, để dành cho những khi nguy khốn nhiều hơn là tiêu xài hoang phí. Người Đức cũng thế, họ thường để dành ít nhất theo chỉ tiêu của nhà băng là ba tháng tiền lương để phòng thân. Trong thời đại Covid 19, từ đầu năm đến hết tháng 11 số tiền để dành trong tài khoản ngân hàng đã lên đến 35 tỷ euros, cộng thêm với tiền có sẵn trong các ngân hàng, số tiền không được tiêu thụ này lên đến 100 tỷ euros, đến cuối năm 2020 sẽ lên đến 130 tỷ euros và tổng số này sẽ còn tiếp tục tăng lên trong năm 2021, tiên đoán sẽ chạm mức 200 tỷ euros. Những gia đình để dành được tiền nhiều nhất (50% trên tổng số) là 10 % thành phần giầu có thượng thặng trở lên, đóng đủ mọi loại thuế rồi mà vẫn còn dư một đống tiền, tiêu xài không sao hết được. Theo định nghĩa hiện tại thì gia đình nào có 4.000 euros thu nhập một tháng là được xếp hạng « aisés », từ sung túc đến giầu. Những người nghèo thì càng nghèo thêm vì thất nghiệp, vì đời sống ngày càng đắt đỏ.

Một con số phỏng đoán do một nhà xã hội học dựa trên thăm dò ý kiến trên cơ sở của 3.000 mẫu là 40% các đôi sống chung hiện tại không bao giờ cãi nhau về quản lý tiền bạc trong gia đình, có thể nói đó là những cặp đôi hạnh phúc. Nói cách khác, có 60% các cặp có cãi nhau vì tiền. Nguyên nhân thì nhiều lắm, đa dạng, nặng hay nhẹ, chi phối đến tình yêu, có thể làm đổ vỡ tình yêu, hôn nhân.

Những sự lựa chọn nhầm lẫn về người bạn tình/bạn đời là những vấp ngã với hậu quả rất nặng nề trong một đời người, mèo mỡ gà đồng, bạo lực, ác độc với con cái, tiêu tiền như nước, nợ nần ngập cổ, mà muốn thoát ra phải tốn kém biết bao nhiêu là nghị lực, can đảm. Nhiều cuộc hôn nhân kết thúc bằng giết nhau, tự tử. Nhưng „ Dò sông dò biển dễ dò, Có ai lấy thước mà đo lòng người “, những con người nham hiểm thâm trầm chỉ lộ ra chân tướng khi ván đã đóng thuyền. Âu cũng là một món nợ tiền kiếp phải trả, có những con người sinh ra chỉ để đòi nợ người khác !

Những cuộc ly dị theo luật pháp của Pháp kéo dài ít nhất là hai năm, trung bình là bốn năm, thời gian mà người trong cuộc đều hao tâm, tổn trí, mệt mỏi và phí tổn ít nhất được tính là 4.000 euros tùy tình trạng tranh cãi, các sự hòa giải pháp lý và phân chia của cải. Cho nên, ly dị chỉ là giải pháp sau cùng khi không thể sống chung với nhau được nữa, phải hát bài chia ly: Anh đi đường anh, tôi đường tôi, Tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi…

Tôi nhớ có một lần ở Hà Nội, bà bán quần áo lụa là ở Hàng Gai chanh chua đúng theo kiểu Bắc kỳ rốn, nhìn vợ chồng tôi đi mua hàng, chồng tôi kiên nhẫn ngồi chờ tôi thử áo, bà ta bèn buộc miệng nói: „ Chị vớ được cái ông tây này ở đâu đấy, ông ta đẹp trai mà lại hiền…“ . Nghe bà bán hàng khen chồng tôi, lại như là hạ bệ tôi, tôi cười, Trương Phi đấy, đừng có chọc tôi…Ắt hẳn bà ta không biết một tí gì về quan hệ „ván đã đóng thuyền“ của người Pháp, nên tôi không chấp. MTT

Hỏa táng ở Bình Hưng Hòa

25. décembre 2020

Hỏa táng ở Bình Hưng Hòa – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Ngày Chúa sinh ra đời, lại nói chuyện tang tóc, phải như thế, vì sinh tử là một, có sinh có tử, và Chúa sinh ra đời cũng để cứu rỗi nhân loại thoát khỏi mọi khổ đau. Ở vào tuổi của tôi, không như ngày còn trẻ, chỉ toàn là ăn sinh nhật và ăn đám cưới, mà đã có dần dà nhiều hơn những xa cách, những vĩnh biệt.

Tôi nhớ ngày ba tôi mất, cũng bị đưa đi hỏa táng ở Bình Hưng Hòa. Đối với tôi, đó là một vết thương lòng không đóng. Ba tôi rất sợ bị hỏa thiêu, lúc sinh thời ba má tôi đã mua đất để chôn trong chùa, làm sẵn kim tĩnh bên cạnh phần mộ má tôi. Thế mà không biết sao cả ba đứa em tôi lại quyết định hỏa thiêu ba, chúng nó ỷ lấy số đông xúm lại áp đảo tôi một mình chống lại. Đến lúc phát tang tôi cũng không được phát quần áo tang. Đành chịu vậy thôi. Rồi trời sẽ trả lại những sự ác độc đó.

Trong sự mất mát quá to lớn, tôi như một cái máy không hồn, ai biểu gì làm theo đó. Chung quanh tôi cảnh vật và người đều lu mờ. Bạn bè đến phúng viếng không nhớ một ai. Tôi không biết đã đi theo ai lên đến Bình Hưng Hòa, một địa danh hỏa táng mà tôi chưa từng nghe tới, không biết nó nằm ở đâu trong thành phố rộng lớn này. Đến nơi tôi ngơ ngác, lạc lõng không biết đi đâu, chồng tôi kéo tay tôi, chỉ hướng theo đoàn người vào theo.

Ấn tượng duy nhất của tôi ở Lò thiêu, tên người dân quen gọi, là những tấm gạch lát tường mầu trắng như tường nhà tắm, nhà vệ sinh, không có chút nào trang nghiêm, chỉ thực dụng. Tiếng gõ mõ, tiếng tụng kinh vang rền qua loa phát thanh của những người bên cạnh. Ai đó ấn tôi quỳ xuống, một thầy bắt đầu làm lễ, tụng kinh. Tôi không nghe gì hết, không thấy gì hết. Một lúc sau thầy làm lễ xả tang cho tôi, tôi cũng chẳng cảm thấy gì.

Chợt, quan tài của ba tôi đang nằm trên một cái bệ, bỗng sụp xuống, nắp hố đóng lại, như một thời yêu thương của tôi sụp xuống trước mắt, biến mất, tôi ứa nước mắt, kêu thầm thảng thốt bàng hoàng trong lòng „Ba !“, vừa kịp nhìn thấy mấy đứa em tôi ném theo quan tài quần áo của ba tôi.

Thế là hết. Chấm dứt một đời người, hình hài đã thành tro bụi. Tôi chỉ còn hai chữ „bàng hoàng“. Mới hôm qua còn thấy bóng người trên trần thế ! Một con người biến mất nhanh quá ! Kể từ phút giây này, chỉ còn là kỷ niệm của thương nhớ, của những tấm ảnh, những di vật.

Tôi đi theo chồng tôi như một cái máy, anh đi đâu tôi đi đó, không biết làm sao rồi chúng tôi cũng đến được chùa nằm ở Thủ Đức, nơi chôn cất ba tôi. Cái hũ tro nhỏ xíu nằm chơ vơ trong mảnh đất phần mộ đã được khơi ra. Thầy tụng kinh lần cuối. Lấp đất lại. Mong ở trên cao linh hồn ba được yên nghỉ và thứ tha cho mọi lỗi lầm của con.

Ngay vừa sau ba tôi nhắm mắt, đứa em gái của tôi đưa cho tôi một cái còi lính và một cái ví da nai của ba tôi cho tôi, hỏi, chị có muốn lấy những cái này không, coi chừng chị thổi cái còi là ba về đó, tất nhiên là có, làm sao mà tôi có thể từ chối những kỷ niệm của ba, và tôi phải cảm ơn nó, vì tôi không biết là chúng nó đã phân chia gia tài của ba để lại. Cái còi này, ba tôi đã nhận từ thời phải đi lính cho Pháp, cái ví da nai này, ba tôi đã tự tay làm ra bằng một mảnh da nai khi đi săn thú rừng với bạn ở Buôn Mê Thuộc những năm 1950, 1960.

Bỗng nhiên, tôi giận ba, không để ảnh ba trên bàn thờ, ba tôi chưa chết, vẫn còn đâu đó, chỉ để cái còi lính và cái ví da nai trên bàn thờ. Mãi mấy năm sau, „cơn giận“ của tôi mới nguôi ngoai, tôi thượng ảnh ba tôi lên bàn thờ cạnh má tôi.

Con đường Nhân Quả của Phật Pháp tin rằng, cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè, anh chị em dù cùng cha cùng mẹ sinh ra cũng đều là vì nhân quả mà có duyên có nợ với nhau, gặp nhau, đi chung với nhau một quãng đường, cho đến khi duyên nợ được chấm dứt.

Trên cõi đời này tất cả những mối quan hệ tốt đẹp được gọi là duyên, dù ngắn hay dài, những mối quan hệ căng thẳng, đau khổ, thậm chí đi đến giết nhau…được xem là nợ, duyên hay nợ bắt đầu bằng bất cứ lúc nào và cũng chấm dứt bất cứ lúc nào. Cổ nhân có câu „ Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng.“. Nhiều khi, người này phải gặp người kia, không phải để kết duyên, mà để trả một món nợ nào đó từ kiếp trước.

Khi duyên nợ chấm dứt thì không nên kéo dài sự tiếc nuối vô vọng, hãy để cho nó ngủ yên như một giấc mơ đẹp hay một cơn ác mộng của trần thế.

Niềm tin vào Nhân Quả của nhà Phật giúp cho con người gỡ ra mọi mối boòng boong do tình cảm sinh ra, sáng suốt hơn, bớt mê muội ám chướng. Phải tâm niệm rằng, mình sinh ra đời với hai bàn tay trắng và có một mình, lúc chấm dứt cuộc đời trần thế lại cũng chỉ là trắng tay và một mình. Bao nhiêu tham, sân, si đều trở thành nhân quả. Sám hối là phương cách hay nhất để tìm sự thứ tha cho chính mình và đem lại sự thanh thản cho tâm hồn.

Hôm nay, đúng vào ngày Giáng Sinh 2020, được xem lại cảnh hỏa thiêu ở Bình Hưng Hòa qua video của một người bạn vừa mới qua đời vì đột quỵ tại Việt Nam, tôi như sống lại được những kỷ niệm cũ, vừa cảm thương cho những người thân của bạn còn ở lại tiếp tục cuộc đời. Nhìn bạn bị cuốn hút vào những nghi thức, tôi chia xẻ mọi cảm thông. Nỗi buồn khi chia xẻ thì được vơi đi, mong bạn còn ở lại xem nó như một giấc mơ đẹp của đời mình, và hãy cảm ơn những người bạn đã thương tiếc đưa tiễn mình lần cuối cùng, đó cũng là một cái duyên đẹp. MTT

Thơ Tuyết Trần 2004 – Trình bày Trần Minh Khôi, Berlin

Một tấm ảnh một trời thương nhớ

21. décembre 2020

Một tấm ảnh một trời thương nhớ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Tặng bạn Mỹ Hà, Hà Nội

Chị bạn gởi cho một video trên mạng để giới thiệu một ban hợp ca người Việt ở Paris với hòa âm của ban nhạc thính phòng học viện âm nhạc Rouen vào năm 2016, đấy là một sự tình cờ mở ra trong tôi kỷ niệm của một trời thương nhớ của tuổi trẻ tôi và của nhiều người bạn cũ.

Hợp ca này, chúng tôi đã hát năm 1974 vài tháng sau khi ký kết hiệp định Paris năm 1973, bài hát Tổ quốc ta trong chương trình văn nghệ liên bang ở Berlin, rất hoàng tráng, rất khoan thai, cách đây đã 46 năm trời.

Vào thời điểm ấy, chúng tôi dốc toàn lực, không ngại thì giờ, không ngại tốn kém để giới thiệu với quần chúng Đức văn hóa của Việt Nam, một văn hóa yêu nước hào hùng của một giai đoạn chiến tranh khốc liệt,

Chúng tôi tập hát mỗi tuần, cầu cả hai ba tháng trước khi tổ chức đêm văn hóa tại Berlin. Trong lòng ai cũng háo hức được góp mặt. Tất nhiên có một sự lựa chọn. Hồi ấy, tiếng hát là tiếng lòng, đúng như chị bạn tôi nói, anh nào cũng hát, chị nào cũng hát, lạc cả giọng, sai cả nốt. Bởi vậy, chỉ tiêu là hát đúng nốt, mới được chia bè. Anh trưởng ban văn nghệ chi hội đã nhận được bản phối từ „trung ương“, kết hợp nhiều ban hợp ca trên khắp nước Đức, người điều khiển dàn hợp ca chúng tôi là anh Đồng ở Berlin. Về phần tôi, thời trẻ, còn có giọng hát trong sáng và cao, tôi lên được đến nốt sol, tất nhiên được phân loại bè soprano.

Chúng tôi đến từ Aachen, Bonn, Köln, Ruhr, Damstadt, München, Stuttgart, Hannover, Göttingen, Frankfurt…những nơi tụ họp nhiều sinh viên Việt Nam nhất. Để di chuyển tới tận Berlin, nhiều anh đã phải đi autostop nhiều chặng. Tôi là nữ, được các anh chiều chuộng hơn, cho đi xe ké của anh Th.

Thời ấy anh Th. đã có biệt danh là Th. 140, vì anh có xe hơi lại thích chạy tốc độ nhanh, sinh viên nghèo lại bị cúp chuyển ngân làm gì có xe hơi. Tình trạng kinh tế của chúng tôi có thể nói là giống nhau, bị chính quyền Sài Gòn cúp chuyển ngân, chúng tôi không nhận được tiền của gia đình chuyển cho ăn học nữa, ai cũng phải tứ tán tìm việc làm và xin trợ cấp của nhà thờ để sống, tiếp tục học hành. Người nào may mắn hơn thì tìm được chân trợ việc Hiwi (Hilfe wissenschafliche) trong trường đại học.

Tôi chưa vào học đại học, còn đi học tiếng Đức, nên phải đi làm việc nhà, làm công nhân hãng nước hoa 4711, làm công nhân may mặc, lương chỉ có 5 DM một giờ, không có bảo hiểm. May một đường quần từ gấu lên đến lưng được tính là năm xu, còn dây chuyền xà bông thì một ngày phải gói được 10.000 cục xà bông thơm. Vì thế, tôi chuyển hướng từ muốn học ngành y khoa sang học về kinh tế, hấp dẫn hơn. Các anh thì tìm việc trong hãng làm vỏ xe, hãng bột giặt.

Hai nhà thờ, thiên chúa giáo và tin lành, đã cứu vớt chúng tôi, cấp cho học bổng 400 DM một tháng. Thuê nhà điện nước đã tốn khoảng 200 DM, một bữa ăn Mensa 1,4 DM. Tôi được học bổng của nhà thờ tin lành, lây lất sống như thế, tài chánh rất eo hẹp khoảng 5 năm, đến khi tôi thi đậu bằng Vordiplom và được học bổng sinh viên giỏi, đời mới lên hương.

Còn chỗ ăn ngủ tại Berlin ? Không biết ai đi mượn cơ sở, mà chỗ ngủ là sân vận động cũ của Berlin. Cái phòng hoàn toàn xây bằng bê tông xám, không lát gạch, không có sưởi ấm, nữ một bên, nam một bên, lạnh quá, chúng tôi trải túi ngủ nằm xấp lớp sát cạnh nhau cho ấm trên nền tráng xi măng, tôi nằm giữa hai bạn Hằng và Tâm. Đến giờ tôi vẫn còn rùng mình vì cái khung cánh nhắc nhở lại thời kỳ Hitler ấy. Ấy vậy, mà lúc lên sân khấu, chúng tôi diện áo dài đủ mầu sắc, đẹp như tiên nữ, năm đó tôi mới qua tuổi trưởng thành là 21 tuổi.

Bài hát Xuân chiến khu do MTT đơn ca với tiếng đàn của anh Phạm Đắc Luân.

Tôi kể cho chị bạn tôi nghe câu chuyện, mãi đến bây giờ mới biết từ các „cụ già“ 70 tuổi bạn cũ „khai“ ra, đúng là loại chuyện bây giờ mới kể, thời xa xưa ấy, các anh liệt tôi vào loại „hót gơ“, đi họp hành liên bang chỉ vì có tôi, gây náo động xâm xi nhiều quá, đó là lý do vì sao ban chấp hành trung ương và ban chấp hành chi hội thống nhất bèn đuổi tôi ra khỏi hội, cấm không cho sinh hoạt nữa và cấm luôn mọi liên lạc với bạn cũ, nhiều bạn thấy tôi đi bên này đường thì tránh qua bên kia như tránh hủi, phải trong sạch hóa hàng ngũ vì cách mạng đến rồi, chị ấy thích quá, chuyện hay quá, phải viết ra để đời cho con cho cháu…(rõ là dân làm báo có khác).

Tôi gửi cho chị bạn tôi xem tấm ảnh duy nhất của tôi còn lại trong đêm văn hóa tại Berlin. Tấm ảnh này hình mầu, do một người si tình tôi tặng cho, người không được hát, chụp với máy Polaroid, cứ mỗi pose là một tấm ảnh duy nhất, không có hai, sang lắm lận. Cách đây 46 năm thì có máy ảnh chụp phim negative đen trắng với ống kính 50 là đã sang rồi. Chị khen, các chị đẹp quá. Mình còn trẻ mà.

Tiết mục Múa Nón của đoàn văn nghệ sinh viên Việt Nam trên sân khấu rộng thênh thang của Philippe Hall Düsseldorf Tây Đức

Trong những chuyện đáng nên kể lại cho con cháu, thời „oanh liệt“ nhất của tôi có vài ba bốn kỷ niệm. Một trong những kỷ niệm nhớ đời là lần biểu diễn ở Philippe Hall ở Düsseldorf trước hơn 5.000 khán giả chật phòng. Đội văn nghệ chúng tôi đại diện Việt Nam trình diễn ba tiết mục múa nón, đơn ca và hợp ca, tôi hát đơn ca bài Xuân Chiến Khu với tay đàn guitar của anh Phạm Đắc Luân. Sau bài hợp ca thì cả thính phòng vỡ òa vì tiếng vỗ tay vang dội và khán giả người Chile, những người bạn thân thiết với Việt Nam thời ấy đứng dậy hô vang dội „Hoch hoch die Internationale Solidarität“ und „Venceremos“….Tình cảm ấy, không khí ấy, làm cho tôi run cả chân tay…

Photo MTT2020

 

Tôi vẫn còn giữ một đĩa hát 45 tours master của năm 1974 đã thâu trong cơ sở thâu băng chuyên nghiệp của Verlag Pläne. Chúng tôi tự xưng là Nhóm sinh hoạt văn nghệ Cửu Long – Tây Đức, thâu thanh ba bài hát Quảng Bình quê ta ơi, Hát cho dân tôi nghe và Thuyền em đi trong đêm… cũng là đĩa nhạc duy nhất của những tiếng hát như tiếng lòng của thời tuổi trẻ. Pierre, chồng tôi đã chuyển âm sang format mp3, anh là người biết về đời tôi nhiều nhất.

Để thâu đĩa hát này bọn chúng tôi, thật tình là ban văn nghệ trung ương, chủ lực của hội lúc đó, gồm đâu đó cả hai ba chục người hẹn nhau tụ họp ở nhà anh Quỳnh Quế (dòng dõi hoàng tộc) ở Köln để tập dượt. Anh Quỳnh Quế rất hiền, hết lòng vì anh em. Ái chà, lo ăn lo uống cho hai ba chục người đâu phải là dễ, lại bầy hầy ở nhà anh Quế ! Lại đàn hát suốt ngày, chị Helga vợ anh Quế chịu sao thấu. Anh Quế đàn mandolin, anh H. mandolin và ba bốn anh đệm guitar. Đến lúc xong việc ra về tôi áy náy vô cùng. Anh LCC, bây giờ là một dịch giả nổi tiếng, khi ấy là giọng hát nam hay nhất trong ban, hát giọng chính. Phía nữ thì có chị Th. hát chính, trưởng ban phụ nữ của hội, bây giờ chị là bác sĩ, nhưng đến hôm thâu thì chị lên cơn sốt giọng yếu hẳn hát lên không nổi, âu cũng là số trời, chịu vậy. Chỉ có bài hát do tốp ca nữ 8,9 chị trình bày là bảo đảm chất lượng.

Đây là món quà của tôi tặng các bạn sau 46 năm trong mùa Giáng Sinh năm 2020, mời các bạn thưởng thức tiếng hát của ban văn nghệ Cửu Long – Tây Đức thu thanh vào tháng 10 năm 1974 qua hai bản nhạc Hát cho dân tôi nghe của Tôn Thất Lập và Thuyền em đi trong đêm của Nguyễn Phú Yên:

Thời gian đã qua, 46 năm một đời người, nhưng mỗi khi nhớ những kỷ niệm tôi lại thấy tình cảm yêu thương quê hương, đất nước lại dâng lên theo từng lời hát từng dòng nhạc không thế quên…và mỉm cười một mình nhớ lại những dại dột của tuổi trẻ…..Mea culpa ! MTT

Hệ thống phân phối lẻ quyết định tầm mức thành công

17. décembre 2020

Hệ thống phân phối lẻ quyết định tầm mức thành công – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Hôm nay, hai ngày sau khi lệnh phong tỏa toàn xã hội tại Pháp đã chấm dứt, chỉ còn giới nghiêm từ 20.00 giờ đến 06.00 giờ sáng, phố xá đã nhộn nhịp trở lại. Những con đường chính ở phố đã đông đúc người đi mua sắm trong mười ngày trước Noël. Các siêu thị lớn cũng mở suốt tuần, luôn cả ngày chủ nhật cho người mua sắm. Trước các tiệm uốn tóc trong những khu thương mại ấm áp, người đứng chờ nối đuôi nhau, tha hồ mà làm đẹp. Nhiều cơ sở không bắt kịp tình hình, người mua phải xếp hàng lâu đợi trả tiền. Mùa Noël là mùa mua sắm mạnh nhất trong một năm. Hy vọng những ngày bị tù lỏng đã chấm dứt…cho đến khi nao…

Tôi cũng vội vàng ào ra tiệm quần áo con nít của thành phố gần nhà, mua quần và các thứ đồ mặc ấm cho mấy đửa cháu, chúng nó mau lớn như thổi…hết rồi suốt ngày xem trên mạng, ít có dám mua.

Trong chuỗi dây chuyền từ khâu mua nguyên vật liệu cho đến khâu bán lẻ đến tận tay người tiêu thụ thì khâu nào cũng quan trọng cả nhưng quyết định vận mạng một sản phẩm thành công nhiều, thành công ít hay thất bại là nằm ở khâu cuối cùng: vận chuyển, giao hàng đến tận tay người tiêu thụ. Sản phẩm dù có thượng hạng đến đâu mà không đến được tận tay người tiêu dùng, cũng như chi phí vận chuyển quá sức đắt đỏ, thậm chí gấp mười lần, hai mươi lần giá sản phẩm thì cũng là một thất bại lớn trong dây chuyền kinh tế.

Đại dịch Covid từ năm 2019 qua 2020 đã chỉ ra điểm yếu điểm này. Những ông lớn bán hàng qua mạng kiếm về khối lời kếch xù. Người tiêu thụ bị cản trở, không tự di chuyển để mua hàng hóa được, lại bị giam hãm tù túng trong bốn vách tường của mình, làm gì để tiêu thụ, để cho bớt nhàm chán ? Họ lên mạng, tìm kiếm và đặt mua trên mạng. Thời của e-commerce đã đến. Thế mà, tiền thì phải trả ngay mà hàng thì chưa có, đó chỉ mới là một lời hứa giao hàng.

Rồi bao nhiêu rắc rối xảy ra: hàng đã hết, không có, quảng cáo sạo, hoặc hứa hẹn sẽ giao hàng trong 2 tháng nữa, hoặc hứa hẹn sẽ trả lại tiền, hoặc hàng giao bị lỗi…vân vân và vân vân.

Mua bán kiểu này thì không phải là tiền trao cháo múc nữa, mà một khi tiền đã trả qua thẻ tín dụng ngân hàng hay qua ngân phiếu trước khi có hàng và nhận hàng thì người mua chỉ còn có nước cầu trời khấn phật cho mình đừng bị lừa.

Có những trang mạng, quảng cáo những món hàng đánh vào thị hiếu của người mua, thâu tiền của khách ngay, trên thực chất họ không có hàng, hứa hẹn trả lại tiền, họ trả lại thật đấy nhưng…người mua phải chờ đợi mấy tuần, cả tháng. Đó là khoảng thời gian họ „mượn“ tiền của người đặt hàng để lấy lợi nhuận mà không tốn xu nào. Bạn nghĩ xem, mượn kiểu ấy của cà trăm ngàn người như thế thì tổng số là bao nhiêu ? Lợi nhuận một ngày, một tuần, một tháng của họ là bao nhiêu ?

Có những trang mạng, ở trang bán hàng thì họ hứa hẹn sẽ giao hàng ngay thời điểm X, bạn trả tiền rồi thì bạn nhận được meo báo tin thời gian chuyển hàng kéo dài ra thêm 10 ngày nữa, chờ 10 ngày rồi hàng vẫn chưa đến…., chờ một tháng…, sốt ruột ăn ngủ không yên, nếu bạn nhận được hàng đặt nguyên vẹn thì hãy mừng đi nhé.

Để giảm thêm giá vận chuyển những trang mạng tận dụng lỗ hổng của mạng lưới thị trường bưu điện quốc gia. Thay vì giao tận nhà qua bưu điện, thì họ „đề nghị“ giao hàng ở một địa điểm, rồi bạn tự di chuyển đến địa điểm đó lấy hàng. Điều này có vẻ có lý, thí dụ bạn bận vắng nhà, nhà không có người chờ suốt buổi sáng để nhận hàng chẳng hạn. Địa điểm này có thể là một cái siêu thị, một cửa hàng bán sách báo, một tiệm bán hoa, một tiệm tạp hóa, một tiệm chuyên bán một thứ gì đó…, mà người chủ muốn kiếm thêm vài phần trăm hoa hồng qua việc chấp nhận là điểm vận chuyển trung gian và cuối cùng.

Nhưng….bạn không hề được báo là hàng đã đến, đến một lần, hàng chưa tới nơi, đến lần thứ hai mới có. Ở thành phố mất công bạn mất công đi tới đi lui tốn sức tốn công, nhưng ở nhà quê thì bạn còn phải lái xe đi lái xe về cả chục cây số, thì lúc đó bạn mới thấm thía rằng bạn tốn tiền thêm và tốn thì giờ thêm cho món hàng mình mua.

Gởi một cuốn sách qua bưu điện rất tốn kém ở Pháp, trong khi các nước khác có giá riêng cho ấn phẩm, thì ở Pháp bị xóa bỏ, ấn phẩm phải được gửi theo giá thư từ, một cuốn sách nặng khoảng 500 gram (nửa kí thư) thì bạn tính xem, nó đắt đến mức độ nào ? Tiền gửi sách đắt hơn tiền in ấn ! Bưu điện Pháp đạt được tiếng tăm là rất đắt.

Nhiều nhà vận chuyển quốc tế muốn gỡ gạc thêm ở người tiêu thụ họ bèn vẽ vời chuyện ra, tống đạt thư đòi tiền thuế hải quan, trên thực tế là hải quan không đòi, và cộng thêm tiền hành chánh nữa, tính ra là khi không phải trả thêm họ mấy chục đến cả mấy trăm euros. Bởi vậy khi người tiêu thụ nhận hàng quốc tế thì phải giữ lại giấy tờ chứng minh thêm vài tháng nữa để làm bằng chứng, nhất là trong trường hợp không phải là hàng hóa mua bán (mình gửi cho mình, quà tặng…) nếu họ đã giao hàng rồi. Cần nhất là người gởi (đầu gốc) phải làm giấy tờ và kiểm soát lý do gửi hàng cho kỹ trước khi trả tiền oder đơn vận chuyển hàng hóa, để người nhận không bị yêu sách một cách trắng trợn thêm bởi công ty vận chuyển hàng hóa.

Người phải lái xe giao hàng, là một nghề cực nhọc, chạy lấy chạy để, rất hung hăng trên tuyến đường lái xe, để đến một địa điểm nào đó cho kịp giờ ấn định, cuối ngày là đi xong một tua, vì thế họ không có nhiều thì giờ đối với khách hàng, thiếu điều muốn quẳng cái gói cho người nhận rồi chạy ngay.

Ở Việt Nam, những người giao hàng thường lái xe hai bánh, phải đi suốt ngày ngoài nắng hay trong mưa gió, đen thui, ốm nhách, lại dễ bị tai nạn với xe tải. Còn ở Pháp thì những người giao hàng lái xe bán tải cỡ nhỏ, chạy ào ào bất kể mưa rơi, tuyết rơi.

Đứng về mặt người bán, họ không có kho trữ hàng, chỉ oder lại khi có khách đặt, cứ như thế dây chuyền mà chạy cho tới người bán cuối cùng thì hàng của họ… nó đang nằm trên một chiếc xe tải chạy lông nhông.

Trong ngành học về Logistic thì vấn đề giảm thiểu chi phí „kho hàng“ là vấn đề hàng đầu. Kho hàng càng chứa nhiều hàng hóa càng đọng vốn, chi phí quản lý, chi phí bảo hiểm, tiền đầu tư cho mặt bằng …cho nên nguyên tắc của kho hàng phái là giảm thiểu tối đa hàng tồn kho. Cho nên, trữ hàng, trứ danh nhất là giấy vệ sinh trong thời covid, chỉ là nhà dân mua cả đống giấy về trữ, xài dần trong niềm vui của nhà sản xuất.

Có những nhà chính khứa màu xanh lè xanh lét luôn miệng than van về ô nhiễm môi trường, họ cấm điện hạt nhân, trong khi khai thác than nâu bụi than bay xa, bay tứ tung đọng vào phổi của người dân, điện gió thì ô nhiễm môi trường vì siêu âm do quạt gió phát ra, cấm xe hơi nhà chạy bằng dầu diesel, trong khi tàu công tơ nơ chở hàng triệu tấn trên biển có sức ô nhiễm bằng trăm ngàn chiếc xe hơi, còn trên đường thì xe tải chạy bằng dầu di chuyển trên khắp nẻo đường từ nhà quê ra tỉnh, vào thành phố rầm rập dọc ngang ?

Họ cho phép xử dụng chất hóa học, chất bảo quản…trong thực phẩm thì họ có nghĩ đến phí tổn sức khỏe của dân trong bệnh ung thư và của cả xã hội…? Đó chỉ là một vài thí dụ đập vào mắt.

Họ nói gì ? Cái lý hay cái vô lý của người có quyền do dân bầu mầu xanh ? Mầu xanh là mầu của thiên nhiên, tượng trưng cho hy vọng, ta phải thấy ra những con người xấu đen đúa ẩn nấp sau mầu xanh, đưa nó ra làm tấm bình phong, bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường, miệng rao bán xanh mà sống không xanh. MTT

Những cây thuốc thiên nhiên ở Pháp -©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

11. décembre 2020

Những cây thuốc thiên nhiên ở Pháp –©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Mỗi loại thuốc tây y đều có những phản ứng phụ nặng hay nhẹ không có lợi cho nội tạng như gan, thận, dạ dày và đường ruột. Biết vậy nhưng những bệnh nan y đều cần đến khoa học tây y để chữa trị, phẫu thuật khi mà đông y không có hiệu lực nữa. Theo thiển ý, đông y có hiệu lực đường dài, êm dịu, chăm sóc sức khỏe, đem lại sự thăng bằng cho cơ thể, tây y có hiệu lực cấp tốc với một tác dụng mãnh liệt để trị bệnh bộc phát, tai nạn, chấn thương…. cả hai có thể bổ xung cho nhau tùy thời gian và trường hợp.

Những tủ thuốc gia đình thời xưa của Pháp

Tại nước Pháp, trước khi ngành kỹ nghệ về thuốc tây phát triển với những hợp chất hóa học thì người dân Pháp cũng sử dụng thảo dược để bảo vệ sức khỏe lâu dài từ ngàn xưa đến nay. Người dân Pháp ở vùng nông thôn đều biết giá trị của những cây cỏ thiên nhiên, cây này chữa bệnh mất ngủ, cây kia trị mụn cóc…, đến cả súc vật cũng biết chọn cây để ăn, như con chó ăn cỏ tranh để mửa ra khi nó ăn không tiêu, cây cỏ nào mà thú vật tránh, không ăn là loại cây có chất độc. Họ truyền miệng cho nhau những cây thuốc và phương pháp chữa trị của grand’-mère (bà nội hay bà ngoại). Tôi học được ở chồng tôi các cách dùng cây cỏ « dại » để nấu ăn, người ta gọi nó là thế vì nó tự nhiên mọc lên, như món xúp ortie (cây tầm ma), món sà lách pissenlit (cây bồ công anh), uống trà với lá ronce (cây ngấy)…hoặc dùng hoa bourrache (hoa lưu ly) trang điểm cho các món ăn, và dùng những thứ thảo dược khác làm gia vị như rose (hoa hồng), laurier (lá nguyệt quế ), romarin (cây hương thảo), sauge (lá xô thơm) , thym (cây xạ hương) …là những thứ cây có tự nhiên trong vườn nhà…Anh cũng nuôi một tổ ong để ong làm đậu hoa kết trái.

Từ thế kỷ thứ 18 sang suốt thế kỷ thứ 19 khi ngành khoa học tây y bắt đầu phát triển, các sinh viên đều phải thực tập trên các xác chết của tù nhân, binh lính tử trận…hoặc ăn cắp các xác chết trong nghĩa địa rồi mua đi bán lại ở khắp các nước châu Âu, các mộ chôn từ đó đều phải có biện pháp chống ăn trộm xác chết, thậm chí xây mộ kiên cố như nhà tù.

Sự kiện này đã làm phát triển các ngành nghề bác sĩ giải phẫu, bác sĩ răng, bác sĩ bách bệnh kê đơn viết toa thuốc và ngành dược phẩm khi ấy có tên là les apothicaires bào chế thuốc theo toa bác sĩ và sáng chế ra những thứ thuốc trị liệu.

Tại thành phố Rochefort phía biển Đại Tây Dương còn có một viện bảo tàng về y khoa thế kỷ thứ 18 duy nhất ở nước Pháp mang tên l´Ancienne Ecole de médecine navale thuộc hệ thống Musée national de la Marine (Bảo tàng hải quân quốc gia) được thành lập từ năm 1722, hiện nằm trong khuôn viên của Hôpital de la Marine de Rochefort là trường học y khoa đầu tiên trên thế giới. Trong suốt trên 240 năm lịch sử của trường, trường đã đào tạo nhiều bác sĩ giải phẫu để làm việc trên những chiến thuyền của Pháp đi thám hiểm khắp thế giới.

Bây giờ tất cả những hiện vật được trưng bày trong viện bảo tàng như sọ người, bộ xương, da người, hệ thống thần kinh, hệ thống mạch máu, các thứ thuốc đựng trong các chai lọ thủy tinh…. đều là chứng tích của một thời đại khai phá thuộc địa của Pháp và sự tiến bộ của ngành y khoa hải quân. Chúng tôi đã đến thăm viện bảo tàng này hai lần, những ai yếu bóng vía nên cẩn thận khi vào xem.

Kỹ nghệ thuốc tây là một trong bốn trụ cột chính của nền kinh tế Pháp. Trong thời đại hiện tại vì vấn đề tài chính lợi nhuận lên đến hàng tỷ euros cho người đầu tư mà các giới „vận động hành lang“ của kỹ nghệ thuốc tây áp đảo thị trường. Để nghiên cứu, thử nghiệm, chế tạo đại trà, quảng bá khắp thế giới và thúc đẩy thị trường của một dược phẩm hóa học các công ty dược phẩm đã tốn tính ra trung bình khoảng 1 tỷ đô la trong một thời gian tương đối dài.

Những loại thuốc được xem là thần dược như pénicilinne, insuline, valium (diazepam)…xuất hiện từ đầu thế kỷ thứ 20 chiếm lĩnh thị trường khiến cho những loại thuốc thảo dược trở nên cảm thấy yếu ớt và không chắc chắn, cũng không được chính thức công nhận, do đó mà phát triển chậm.

Hoa aubépine nở sớm vào mùa xuân ở Pháp, có gai rất nhọn, nên thường được trồng làm hàng dậu.

Nhưng một thành phần dân chúng vì nhiều lý do, thói quen dùng thuốc và kinh nghiệm truyền thống gia đình một phần, phần vì những tác dụng phụ mà nặng nề, kéo dài lâu của thuốc tây kỹ nghệ làm cho ngần ngại, vẫn sử dụng thảo dược, không có bác sĩ cho toa, trong nhiều trường hợp như cảm cúm, ho, viêm họng, viêm xoang, mệt mỏi, stress, đau nhức xương cốt, mất ngủ, béo phì, hỗ trợ sức đề kháng cá nhân hay bệnh về hệ thống tuần hoàn máu…Thường là người dân Pháp tự mua thuốc, các dược sĩ ở nhà thuốc tây có nhiệm vụ tư vấn cho người dân nên dùng thuốc thảo dược gì, bao nhiêu lượng thuốc và trong bao lâu, và tự uống.

Hoa passiflore là loại cây rất thích leo tường nhà, nở hoa sớm vào đầu hè.

Thuốc thảo dược Pháp, cũng do những hãng dược phẩm chế tạo nên chất lượng được đảm bảo, có nhiều dưới dạng rễ, cành, quả, lá cây và hoa phơi khô làm trà, hay dạng bột đóng thành viên thuốc (gelules), hay chất lỏng (thuốc ống) hay kem bôi lên da…gộp chung lại, hệ thống hóa được gọi là Phytotherapie, bán trong những tiệm thuốc tây tự do cho dân chúng, tức là không được thanh toán bằng bảo hiểm, 100% người tiêu dùng phải trả, giá mua tại Pháp của một thành phẩm thảo dược từ khoảng 8 đến 10 euros trở lên.

Mỗi loại thảo dược được phân loại theo tính chất đặc biệt chữa trị từng bệnh. Hiện nay thuốc thảo dược Pháp được sản xuất theo phương thức hiện đại, chiết xuất đậm đặc hơn, thường là không có mùi vị, trừ thuốc ống.

Ruộng hoa lavande ở Pháp, cần nhiều nắng ấm

Những cái tên quen thuộc như tỏi (chữa cao huyết áp, xơ cứng động mạch…), bạc hà (đau bụng, dạ dày, phình ruột) cho đến những loài hoa như oải hương (lavande) chữa trị các bệnh nhiễm trùng về đường hô hấp, bệnh tâm thần như lo âu, sợ hãi, nóng nẩy…, hay loại thuốc ống tổng hợp nhiều thảo dược trị về gan, thận, mất ngủ, tiêu hóa, làm gầy…

Các loài hoa thuốc có khi rất gần gũi với người dân, những loài hoa be bé xinh xinh mọc trong vườn nhà, hàng dậu, ven đường, ven ruộng, ngoài đồng, trên núi như hoa angélique (cây bạch chỉ) , alfalfa (cỏ linh lăng), aubépine (táo gai), bourrache (cây lưu ly), bruyère (cây thạch nam), chardon marie (cây kế sữa), chrysanthellum (hoa cúc), coquelicot (hoa anh túc), lavande (hoa oải hương), mauve (hoa tím), millepertuis (cây cỏ ban), onagre (hoa anh thảo), passiflore (cây lạc tiên), pensée sauvage (hoa tâm tư dại), pervenche (cây dừa cạn), reine des Prés (nữ hoàng của đồng cỏ), sauge (cây xô thơm), séné (cây ô môi) , sureau noir (cây cơm cháy) …

Quả cassis được dùng để làm mứt, làm rượu ngọt (Crème de cassis) pha với Champagne gọi là Kir royal, một món rượu khai vị truyền thống Pháp

Cây và hoa quinquina

Lá cây dùng làm thuốc thì có lá armoise (ngải cứu), artichaut, boldo (cây bon đô), bouleau (cây bạch dương), busserole (cây nho gấu), cassis (cây lý đen), eucalyptus (cây khuynh diệp), frêne (cây tần bì), ginkgo (cây bạch quả), hamamelis (cây kim mai), maté (cây nhựa ruồi), mélisse (cây hương phong), menthe (cây bạc hà), myrtille (cây việt quất đen), olivier (cây ô liu), orthosiphon (cây râu mèo), ortie (cây tầm ma) , papaye (cây đu đủ), plantain (cây mã đề), romarin (cây hương thảo), the vierge (trà xanh), vigne rouge (lá nho đỏ)…

Vỏ cây làm thuốc thì có cây bourdaine (cây táo đen), marronnier d´Inde (cây dẻ Ấn Độ), pamplemousse (cây bưởi), quinquina (cây ký ninh), saule blanc (cây liễu trắng) …

Hoa pissenlit, lá là sà lách của người nghèo….

Quả, thân, cành, củ và hạt dùng làm thuốc thì có avoine (lúa mạch), bambou (tre), bardane (cây ngưu bàng), blé (lúa mì), café vert (cây cà phê), carotte (củ cà rốt), queue de cerise (cuống trái cerise), chélidoine (cây thổ hoàng liên), chiendent (cỏ tranh), pépin de courge (hạt bí), cumin (cây thì là Ai cập), curcuma (nghệ), cyprès (cây bách), pissenlit (cây bồ công anh) ….và còn nhiều loại thảo dược của Pháp nữa.

Cô bé ba tuổi rưỡi thổi hoa bồ công anh hái trong vườn. Photo MTT

Trong nhà tôi có hai ba ngăn tủ trà thảo dược đủ loại, thuốc thảo dược viên, thuốc thảo dược ống…, và nhờ có dầu khuynh diệp mà tôi thở được thông suốt trong mùa dịch Covid mỗi khi phải đeo khẩu trang, thị trường thảo dược Pháp cũng nhờ tôi mà khấm khá lên, các bạn có thấy không ? MTT

Romarin đang nở hoa mầu tím, chiendent và ortie mọc tự nhiên trong vườn. Photo MTT

Bê rô ti truyền thống Pháp trong mùa Giáng sinh

9. décembre 2020

Bê rô ti truyền thống Pháp trong mùa Giáng sinh- ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Bài đã được đăng bằng tiếng Anh trên Vietnam News của Thông tấn xã Việt Nam Hà Nội, ngày 9.12.2020

https://vietnamnews.vn/life-style/824640/oven-roasted-veal-traditional-french-comfort-food.html

Mùa đông là mùa của những món nóng, nhiều nhiệt lượng để chống cái lạnh, nên thực đơn mùa đông khác mùa hè, những món như ra-gu, rô ti, gratins… được ưa chuộng nhiều. Lò nóng cũng sưởi ấm thêm cho căn bếp, căn nhà, mùi thơm của thức ăn tỏa ra ngào ngạt, chứa đựng không gian hạnh phúc của một gia đình. Hạnh phúc ấy đơn giản là có cái ăn, có mái ấm và có người thân chung quanh sinh sống hàng ngày, quây quần quanh ta. Chỉ có khi nào người ta mất đi những thứ ấy, mới thấy có được chúng trong bình yên là cả một hạnh phúc vô cùng tận.

Chợ ở Pháp có hai loại chợ, siêu thị và chợ ngoài trời. Siêu thị là những cửa hàng nhiều kích cỡ của một chuỗi bán lẻ lớn từ hypermarché rộng cả mấy ngàn mét vuông cho đến cái supérette chỉ nhỏ bằng hai gian nhà chỉ có nhu yếu phẩm. Carrefour, Leclerc, Auchan, Intermarché, Super U ….là những cái tên quen thuộc của những ông lớn bán lẻ. Chợ ngoài trời thường là chợ phiên hàng tuần của tất cả các nhà nông bán các sản phẩm của mình, hoa trái rau củ quả, thịt, trứng, gà vịt ngỗng ngan…đủ cả, các nông sản phẩm của họ nhiều khi không đẹp mắt, tròn trịa, bóng loáng như trong siêu thị, nhưng gần gũi với thiên nhiên hơn và ít chất hóa học hơn, mặc dù họ cũng sử dụng các chất diệt cỏ dại và phân bón. Đôi khi gặp những quầy bán nem, tôm bao bột chiên…của người Việt ở chợ phiên thì mừng húm như bắt được vàng, ngại ngùng đứng lại hỏi thăm đôi câu.

Giá hàng ở chợ phiên thường đắt hơn giá chợ siêu thị, nhưng nhiều người thích đi chợ phiên ngoài trời để tán gẫu với người bán hàng hay với ông đi qua bà đi lại. Nói nhiều, nói chuyện trên trời dưới đất, chuyện nọ xọ chuyện kia, nói cho vui cửa vui nhà….là một đặc tính của người Pháp.

Trong mùa dịch Covid chính phủ Pháp ấn định hai đợt giãn cách toàn xã hội kéo dài hơn một tháng, hai tháng, hạn chế việc đi lại đến mức tối đa, chỉ cho đi một cây số quanh nhà, hay chỉ cho di chuyển trong vòng 20 cây số, trong 1 tiếng, 3 tiếng đồng hồ, gây khó khăn rất lớn cho vùng quê, làng này đến làng kia ít nhất 5 cây số mà có làng không còn một cơ sở thương mại hay công cộng nào, không có một tiệm bánh mì, không có một tiệm tạp hóa, phải lái xe hơi đi mua thức ăn ở những thị trấn hay thành phố kế cận cách xa nhau đến 25 cây số. Dân Pháp ở vùng quê đã sống quen như thế, chạy ngược chạy xuôi tốn xăng tốn dầu họ không thấy cực khổ, thiếu thốn nhưng đến khi bị khoanh vùng hạn chế đi lại thì cảm giác mất tự do của họ là rất lớn. Họ nguyền rủa, luật lệ là chỉ có người ở Paris làm cho Paris, ở một thủ đô tầm mức thế giới cái gì cũng có sẵn để phục vụ cho một đời sống cao cấp giầu sang, đi một bước là một cửa hàng, mà lại áp dụng trên toàn lãnh thổ, từ tỉnh nhỏ, thị trấn cho đến nhà quê làm khổ người dân, làm kiệt quệ kinh tế.

Thống kê của INSEE 2019 về mật độ dân cư cho thấy có khoảng 50 triệu người chen chúc sống ở thành thị, vùng Ile de France (kể cả Paris) có khoảng 1.022 dân/cây số vuông, có khoảng 3.000 thị trấn với 410 dân/cây số vuông và có đến 33.000 làng với dưới 64 dân/cây số vuông.

Mùa Giáng sinh năm nay hứa hẹn có nhiều trở ngại do mức độ thất nghiệp tăng cao làm giảm thu nhập của tầng lớp trung lưu bị phá sản và lao động. Tuy thế các bà mẹ gia đình đều cố gắng để dọn một bữa ăn tươm tất với những món quà nho nhỏ cho mọi người, tạo niềm vui hạnh phúc gia đình bù đắp cho những xáo trộn tiêu cực của xã hội.

Bữa ăn đêm Giáng sinh là đoàn tụ gia đình trong ý nghĩa tích cực của nó, hàn gắn, chăm sóc cho tình yêu thương lẫn nhau, bồi dưỡng cho truyền thống gia đình, những người lạc loài trong đêm Giáng sinh hẳn là buồn lắm. Ánh sáng đèn ấm cúng, bên cây thông Noel, trẻ con chơi đùa ầm ĩ, căn nhà rộn ràng tiếng nói tiếng cười của nhiều người, kể chuyện huyên thiên của suốt một năm…, những tiếng reo vui mừng mở gói quà…, tiếng nhạc êm dịu thánh thót…bảo sao các bà mẹ gia đình quên hẳn đi những nhọc nhằn.

Những bữa ăn mùa Giáng sinh vì thế mang tính cách lễ tết, cầu kỳ, đắt tiền, để làm vui lòng mọi người.

Thời tiết mùa đông ở Pháp thường có gió lạnh từ miền bắc thổi về, những ngày mưa ảm đạm, ướt chèm nhẹp lá úa, hay bầu trời xám xịt một mầu õng nước ở 3 hay 4 độ C khiến cho tuyết chỉ chực rơi. Ai nấy cũng đều thích thú khi bước vào một gian bếp ấm, thơm nức, nhất là khi tuyết rơi ngoài trời. Một Noel trắng tinh, tuyết rơi lặng lẽ là mong đợi của mọi người.

Món rô ti bê trong lò rất dễ làm, tuy hơi đắt tiền nên là món ăn thượng thặng dành cho khi có khách, lễ tết, Noel, chủ nhật hay ăn mừng một việc gì đó, giá một kí lô ở Pháp hiện tại xê xích khoảng 25-30 euros. Bạn có thể rô ti trong nồi gang, trong xoong kim loại, hay trong lò…Với mỗi một vật dụng để nấu, bạn có thể được nhiều kết quả khác nhau, thịt mềm, ướt hay khô…

Photo Mathilde Tuyet Tran

Cho 5 người ăn bạn cần 1 kí thịt bê nạc phần mông (noix de veau), mềm, cột với mỡ bê chung quanh, 300 g nấm tươi, 300 g cà rốt, 2 tép tỏi, 2 củ hành tím, gia vị thì có 1 thìa cà phê muối, tiêu, 1 thìa súp bột mì, bơ, dầu olive, herbes de provence hay 1 bó bouquet de provence gồm có thymian, laurier, estragon và 1 ly rượu vang đỏ hay vang trắng tùy sở thích, hay rượu ngọt như porto.

Rượu nấu với thức ăn đều bay hơi hết độ cồn, chỉ còn hương vị (aroma) của nó, nên chọn rượu để nâú là ấn định luôn hương vị của nước xốt.

Thông thường, để nấu món rô ti bê, tôi pha nửa rượu vang đỏ và nửa rượu ngọt với nhau, vì thịt bê nấu với vang trắng thì đó là hương vị đặc biệt của một món ăn khác như Veau marengo chẳng hạn.

Trong một cái nồi to, hay chảo, cho vào một ít dầu, rồi rán thịt bê cho vàng đều các mặt, tắt bếp. Trong một cái khuôn vừa vặn, trét bơ cho đều, rồi trải một lớp cà rốt cắt lát, một lớp nấm cắt lát lên, hành tím và tỏi cắt lát để chung quanh, rắc nhẹ tay một lớp muối và tiêu, rồi đặt thịt bê lên, rắc muối và tiêu lên thịt bê, cho 1 ly rượu, một thìa súp dầu olive và 1 ly nước vào, cho vào lò đã bật trước 250 độ.

Khi nướng, thỉnh thoảng rưới nước thịt lên và canh chừng khẻo cạn nước, bị cháy, trung bình 20 phút cho nửa cân thịt sống. Thịt bê có thể ăn hơi tái hoặc vừa chín tới, lấy dao nhọn thử, nếu thịt không chảy ra nước mầu đỏ hồng là vừa ăn, thịt cắt ra dọn ăn phải còn mầu hồng.

Photo Mathilde Tuyet Tran

Lấy thịt ra khỏi lò, lấy thịt và cà rốt, nấm ra, đặt trên một cái đĩa, không nên vội vàng cắt thịt ngay, mà để thịt nghỉ 10-15 phút.

Trong khi đó thì làm nước xốt, trong một cái xong nhỏ, lấy một thìa súp bột mì và 100 g bơ, rán bột mì trong bơ khi bột có mầu vàng thì đổ nước thịt, đã lọc qua, vào quấy đều, sanh sánh là được, nêm nếm lại nếu cần. Tôi không sử dụng bột nêm hoặc mì chính, không có lợi cho sức khỏe. Rau củ, sữa tươi, kem tươi, rượu ngọt…đã cho độ ngọt vừa phải.

Photo Mathilde Tuyet Tran

Khi dọn ăn, bầy một lát thịt cắt dầy, cà rốt, nấm bên cạnh và xốt riêng bên cạnh. Người châu Âu cần 200 g thịt tươi nấu cho mỗi bữa ăn chính, mỗi người ăn phần trên đĩa riêng của mình. Họ rất ngại phải ăn chung, tất cả đều gắp trong một đĩa thức ăn. Phần ăn của người Việt có lẽ ít hơn, có thể nhiều hơn, vô chừng.

Món bê rô ti có thể dọn ăn với khoai tây luộc, khoai tây luộc rồi tán bằng nĩa hay khoai tây nghiền, bạn nhớ nêm thêm một ít kem sữa, bơ và muối vào hai món khoai tán nay nghiền. Ít khi dọn ăn với khoai tây chiên, vì nhiều dầu mỡ cho bữa ăn.

Chúc các bạn một bữa ăn ngon trong vòng tay thân ái của người thân thương. MTT

Đền vùi xác hoàng hậu Marie-Antoinette – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

29. novembre 2020

Đền vùi xác hoàng hậu Marie-Antoinette – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Kỷ niệm 1.Advent 2020

Ảnh vẽ thời xưa

Xương người của nghĩa trang Madeleine còn lại trong hầm Catacombes của Paris

Square Louis XVI ngày nay bị bao bọc bốn phía bởi bốn con đường sầm uất, boulevard Haussman, rue Pasquier, rue des Mathurins và rue d´Anjou. Đây là địa danh duy nhất mang tên vua Louis XVI trên đất Pháp. Địa chỉ của đền vùi xác là 29 rue Pasquier, quận 8 Paris. Nơi đây là nguyên thủy nghĩa địa Madeleine, chỗ vứt xác của nhiều người bị cách mạng dân chủ Pháp chém đầu, kế cả những người nổi tiếng như Charlotte Corday, Madame Roland…., xác thường được vứt thẳng vào hố đất, lấp bằng vôi.

Năm 1796 người chủ đất cho trồng những hàng rào bằng cây, hai cây liễu và những cây tùng bách chung quanh, bây giờ thời đại mới, nhà đất ở Paris đắt hơn vàng, khu vườn chung quanh bị thu nhỏ lại đến mức tối thiểu.

Bị coi là tài sản quốc gia và bị đóng cửa, nghĩa trang Madeleine đã bị chuyển nhượng nhiều lần, đến năm 1802 bị bán một phần lớn vào tay ông Pierre-Louis Ollivier Descloseaux, người ở trong một căn nhà sát cạnh nghĩa trang kể từ năm 1789, năm mà Cách mạng dân chủ Pháp bùng nổ.

Quân cách mạng Pháp 1789 mang đầu đi bêu riếu

Ông Descloseaux vốn là bếp trưởng của hầu tước de Marivaux, nhưng có học vị cử nhân luật, cho nên ông trở thành luật sư trong quốc hội Paris vào năm 1778. Tuy ông ủng hộ những tư tưởng của cách mạng trong thời gian đầu, nhờ đó ông được nhận trách nhiệm chủ quản những hồ sơ than vãn của dân chúng trong hạt Saint-Philippe-du-Roule, ông trở thành một nhân vật quan trọng trong khu phố, nhưng thực ra ông vẫn trung thành với chế độ quân chủ, và thoát khỏi giai đoạn khủng bố của những người jacobins ….Cũng từ thời đại này khái niệm chính trị cánh hữu, cánh tả được hình thành và trở nên thông dụng, phía cánh tả của vua Louis XVI là phe chống đối, phía cánh hữu của vua Louis XVI là phe thuận.

Sổ ghi nhận hồ sơ những than van chỉ trích của dân chúng thời Cách mạng dân chủ Pháp 1789 của từng khu vực hành chánh và đạo.

Từ khi vua Louis XVIII trở về từ nơi lánh nạn, vua cho tìm kiếm ngay thi thể của anh mình và chị dâu, Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette. Ông Descloseaux ưng thuận bán lại thửa đất nghĩa địa Madeleine cho hoàng gia. Một lệnh hoàng gia ngày 19.01.1815 được ban hành, ra lệnh xây dựng trên đất nghĩa địa một ngôi đền để tưởng niệm vua Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette. Đồng thời ngày 21.01.1815, 22 năm sau khi thân xác bị vùi trong nghĩa địa Madeleine vào năm 1793, thi thể của vua Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette được long trọng chuyển về thánh thất tu viện hoàng gia Saint-Denis, nơi các vua chúa Pháp dòng Capétien được chôn cất, yên nghỉ.

Khi khai quật mộ có nhiều tranh cãi về vấn đề xương thật của vua và hoàng hậu hay xương người khác, vì quần áo đã rục nhiều, thậm chí nhiều xác chết trần truồng, không đầu, cái đầu được đặt nằm giữa hai chân, thời ấy lại không có giám định gen ADN như bây giờ. Dẫu sao, cũng đã là quá khứ lịch sử, mà lịch sử thường mang tính chất của những thảm kịch, bạo động đẫm máu trong mục đích thay đổi cấu trúc xã hội đã đi vào một nề nếp, một trật tự cố định nào đó.

Kiến trúc sư Pierre-Francois Fontaine nhận trách nhiệm xây dựng đền, phó là kiến trúc sư Louis-Hippolyte Lebas lãnh trách nhiệm thực hiện. Đến năm 1824 thì hoàn tất phần đền chính, ngày 21.01.1824 một thánh lễ tưởng niệm vua Louis XVI được cử hành lần đầu tiên tại đền. Công việc trang trí nội thất được tiếp tục sau đó và hoàn thiện vào năm 1826 dưới thời vua Charles X, tính từ lúc khởi công vào năm 1815 đến nay 2020 là đã 205 năm tuổi.

Hầm mộ dòng họ hoàng gia Capétien trước năm 1975

Nhưng trải qua nhiều biến động chính trị của thời gian, khu đền vùi xác bị thâu nhỏ lại và bị đe dọa triệt tiêu. May thay, ngày 22.07.1914 đền được công nhận là di tích quốc gia được bảo tồn. Tám ngày sau, đại chiến thế giới lần thứ nhất bắt đầu. Tương truyền, nhiều người đã từng thấy hoàng hậu Marie-Antoinette hiện hồn về trong đền vùi xác.

Tượng vua Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoinette trong Basilique Saint-Denis hiện tại

Đến năm 1975 thì hầm mộ hoàng gia Capétien ở basilique Saint Denis được xây dựng lại, hoành tráng hơn, hiện đại hơn, các mộ được chôn xuống đất, nắp bằng đá đen, trước chỉ để quan tài xếp hàng cạnh nhau trong hầm mộ, để mở cửa cho khách du lịch vào thăm, nhưng ít có khách du lịch đến từ phương xa biết đến lịch sử của nước Pháp để đi thăm viếng những nơi này, thật là đáng tiếc.

Thánh đường tu viện lịch sử Basilique Saint-Denis, Paris hiện tại

Thánh đường tu viện Saint-Denis hiện tại chứa đựng lịch sử của hơn 1.500 năm qua các thời đại phong kiến từ vua Dagobert năm 639, có tượng khi chết của 43 vua và 32 hoàng hậu cùng 10 công thần, năm 1966 tu viện đã được nâng cấp lên hàng thánh đường. Vào thăm thánh đường càng thấy thấm thía hơn rằng con người không thoát khỏi bốn chữ sinh lão bệnh tử, dù là vua chúa nắm quyền sinh sát thần dân của mình, rồi chỉ có mỗi một con vật chung thủy với mình, đó là tượng con chó nằm dưới chân các tượng vua và hoàng hậu để sưởi ấm cho người.MTT

Cổng vào nhà nguyện đền vùi xác, nơi tìm thấy thi thể vua Louis XVI trong nghĩa trang Madeleine khi xưa. Photo bản quyền của MTT

Hai hàng mộ trước nhà nguyện đền vùi xác. Photo bán quyền của MTT.

Tượng hoàng hậu Marie-Antoinette trong nhà nguyện đền vùi xác. Photo bản quyền của MTT.

Tượng vua Louis XVI trong nhà nguyện đền vùi xác. Photo bản quyền của MTT.

Cổng vào đền vùi xác. Photo bản quyền của MTT.

 

Hoàng hậu Marie-Antoinette, đáng thương hay đáng trách ?

27. novembre 2020

Hoàng hậu Marie-Antoinette, đáng thương hay đáng trách ? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2013

Hoàng hậu Marie-Antoinette

Marie-Antoinette là hoàng hậu cuối cùng của triều đại quân chủ cuối cùng trước giai đoạn cách mạng dân chủ Pháp vào thế kỷ 18. Cuộc cách mạng dân chủ tư sản Pháp kéo dài từ 1789 cho đến 1804 là một giai đoạn đẫm máu với nhiều xáo trộn xã hội và chính trị. Sự kiện quan trọng nhất là việc thiết lập chính thể cộng hòa đầu tiên của Pháp và lật đổ, bãi bỏ chế độ quân chủ, vương quyền của dòng họ Capétiens, tên gọi theo người sáng lập Hugues Capet (941-996), trị vì nước Pháp đã 8 thế kỷ.

Năm 1804 Napoléon Bonaparte thiết lập lại đế chế, tự xưng Hoàng đế của đế quốc Pháp, với sự chứng kiến của Giáo hoàng Pi VII. ( Cùng thời, vua Gia Long lên ngôi hoàng đế vào năm 1802 sau khi đã thống nhất lãnh thổ từ Bắc chí Nam).

Cuộc đời khởi đầu vương giả với một kết cục thảm khốc của Marie-Antoinette trải qua cơn bão lốc kinh hoàng của cuộc cách mạng dân chủ Pháp (la Révolution Française 1789) là đề tài thường xuyên của báo chí, tiểu thuyết, phim ảnh, nhạc, kịch….

Trong bài viết ngắn này tôi đặt câu hỏi là bà đáng tội nghiệp hay đáng trách. Người dân ghét bà thì chỉ gọi ngắn hơn nữa là “l’autrichienne” trong ngụ ý ám chỉ “chienne” là con chó cái nước Áo. Ngày hôm nay, người dân Pháp còn nhắc đến bà với câu nói nổi tiếng và tiêu biểu “Nếu chúng không có bánh mì để ăn thì chúng ăn bánh brioche !” (Qu’ils mangent de la brioche!) để trách bà là một người sống hoàn toàn xa rời thực tế, xa hoa, phung phí, kiêu ngạo, vô tâm, vô nhân, tuy không có gì chứng minh đó là câu nói của bà, có thể là do người ghét gán vào cửa miệng bà.

Marie-Antoinette là người Áo, con thứ mười lăm của vua Đức Franz I. Stephan von Lothringen và bà công tước Áo cũng là nữ hoàng nước Hung và Böhmen tên là Maria-Theresia, sinh ngày 02.11.1755 trong lâu đài Hofburg tại Wien, Áo. Tên khai sinh của bà là Maria Antonia Josepha Joanna von Habsburg-Lothringen (viết theo tiếng Đức), hay Marie Antoinette Josèphe Jeanne de Habsbourg-Lorraine (viết theo tiếng Pháp), nhưng bà thường được nêu bằng tên ngắn là Marie-Antoinette d’Autriche (Marie-Antoinette nước Áo). Bà sở hữu nhiều tước hiệu như nữ công tước Áo, công chúa đế triều, công chúa vương triều của Hung và Bohême, công chúa kế vị Pháp (dauphine), hoàng hậu nước Pháp và Navarre từ 1774-1792, vương phi chính thức của Louis XVI, vua nước Pháp.

Thời ấy các cuộc hôn nhân của vua chúa đang nắm quyền hành hầu hết là những cuộc hôn nhân được dàn xếp vì lợi ích của cả hai bên, nó phải đem lại một lợi ích nào đó như bảo vệ dòng giống hoàng gia, thêm đất đai lãnh thổ, của cải hay là một liên minh bảo vệ nhau về chính trị hay quân sự. Gia đình các vương triều châu Âu đều có quan hệ hôn nhân chằng chịt với nhau từ đời này sang đời khác. Để thỏa mãn các vấn đề tình cảm khác thì các vua chúa, bà hoàng đều có hầu thiếp, tình nhân…thêm bên cạnh.

Thời niên thiếu, Marie-Antoinette đã được giáo dục kỹ lưỡng với các môn học nhảy múa, diễn kịch, lịch sử, hội họa, đọc và viết, kiến thức chính trị, toán học và ngôn ngữ. Trong chính trị hôn phối châu Âu của mình, các con của nữ hoàng nước Áo đều phải kết hôn với các vương triều khác, hoàng hậu Maria-Theresia cương quyết nối kết hai dòng vua Bourbon (Pháp) và Habsburger (Áo) với nhau bằng hôn phối giữa con gái bà là công chúa Marie-Antoinette và hoàng thái tử Pháp.

Hoàng thái tử Louis XVI, sinh ngày 23.08.1754 trong cung điện Versailles, được kế vị ngai vàng của ông nội Louis XV (1710-1774), vì cha là hoàng thái tử Louis-Ferdinand de France (1729-1765) và cả hai người con trai sinh ra trước đều qua đời sớm. Louis XVI là con trai thứ ba của Louis-Ferdinand de France với bà Marie-Josèphe de Saxe, công chúa con của vua Ba Lan Frédéric-Auguste II.

Sau nhiều cuộc thương thuyết khó khăn, vua Pháp Louis XV đồng ý ký hiệp ước hôn phối vào năm 1769 cho Marie-Antoinette và hoàng thái tử Louis XVI. Từ đó, Marie-Antoinette mới 14 tuổi, phải gấp rút học tiếng Pháp cũng như cách ăn nói, xử thế, phong cách của một hoàng hậu.

Ngày 19.04.1770 hôn lễ được cử hành qua đại diện ở thủ đô Wien, Áo. Kể từ ngày đó cô dâu mang tên Pháp là Marie-Antoinette, và mặc quần áo theo phong cách Pháp. Rồi ngày 21.04.1770 cô gái trẻ Marie-Antoinette từ giã gia đình quê hương bạn bè, ngồi trên một cỗ xe ngựa với đoàn hầu cận kéo vượt đoạn đường dài từ nước Áo sang Pháp để gặp chồng còn chưa biết mặt. Cỗ xe cô dâu đi dọc con sông Danube, qua München, Ausburg, Freiburg/Breisgau rồi vượt biên giới ở Straßburg, được đón rước nghỉ ngơi long trọng ở nhiều nơi.

Ngày 14.05.1770 đoàn xe ngựa của Marie-Antoinette đến Compiègne, nơi cô dâu 15 tuổi được ông nội Louis XV và chú rể Louis XVI đích thân đón tiếp rất linh đình trọng thể. Trên đoạn đường từ Compiègne về Paris, Marie-Antoinette ngồi giữa hai vì vua Pháp trên cỗ xe ngựa hoàng gia. Marie-Antoinette đến nghỉ ngơi tại lâu đài chateau de la Muette nằm trong quận 16 Paris, gần cánh rừng bois de Boulogne, chờ ngày cưới. Đám cưới chính thức của hoàng thái tử Pháp, 16 tuổi, và Marie-Antoinette, 15 tuổi, được tổ chức vào ngày 16.05.1770 ở cung điện Versailles, và kết thúc bằng một lễ hội cho dân chúng vào ngày 30.05.1770.

Đang còn trong tuổi trưởng thành, thiếu tất cả người thân bên cạnh, nên Marie-Antoinette phải một thân một mình làm quen, đối phó với môi trường xa lạ, phức tạp của triều đình Pháp, nhất là với những người có quyền lực, ảnh hưởng chi phối như những bà nhân tình của vua Louis XV, đặc biệt là bà Dubarry. Ngày 10.05.1774 vua Louis XV qua đời sau một cơn bệnh nặng. Louis XVI trở thành vua nước Pháp, Marie-Antoinette lên ngôi hoàng hậu khi mới 19 tuổi.

Còn khá trẻ và trong ý muốn làm đẹp, Marie-Antoinette để ý rất nhiều đến sự xuất hiện của mình, nào là quần áo, kiểu tóc và nhất là nữ trang. Và làm gì để quên thời gian buồn chán đang trôi qua ? Hoàng hậu chơi đánh bài, săn bắn, dạo xe trượt tuyết mùa đông, xem đua ngựa, diễn kịch, nhẩy đầm…. Bà cho tu sửa lại mới lâu đài Trianon, một quà tặng của chồng, làm nơi ở riêng của mình, với một phí tổn khổng lồ 2 triệu bảng.

Trên thực tế, bẩy năm sau đám cưới, vua Louis XVI mới thực hiện bổn phận làm chồng của mình vào ngày 30.08.1777, lúc nhà vua 23 tuổi, và hoàng hậu 22 tuổi. Cả triều đình tụ họp để chứng kiến tận mắt cuộc giao phối giữa vua Louis XVI và hoàng hậu Marie-Antoine !

Gần một năm sau, cũng vào tháng 8, triều đình thông báo hoàng hậu mang thai đứa con đầu tiên. Ngày 19.12.1778 Marie-Antoinette sinh hạ một bé gái đặt tên là Marie-Thérèse-Charlotte, trong sự thất vọng của nhiều người chỉ muốn có một hoàng thái tử nối ngôi.

Hoàng hậu Marie-Antoinette với ba đứa con và một cái nôi trống

Ba năm sau, ngày 22.10.1781 Marie-Antoinette sinh con trai, đặt tên là Louis-Joseph Xavier François, đứa trẻ sơ sinh được phong ngay là quận công Normandie, vua Louis XVI khóc vì mừng rỡ. Ngày 27.03.1785 Marie-Antoinette sinh thêm được một đứa con trai, cũng tên là Louis-Charles. Rồi năm 1786 bà sinh lần cuối, một đứa con gái mang tên Sophie-Beatrice vào ngày 09.07, nhưng cô công chúa này chỉ sống được có 11 tháng. Marie-Antoinette rất buồn, cho vẽ một tấm tranh với cái nôi trống.

Kẻ thù chính của nước Pháp khi ấy, nước Anh và Hòa Lan, tận dụng những “điểm yếu” của bà hoàng hậu, trong mục đích chia rẽ phá hoại mối liên kết Pháp-Áo-Đức, tuyên truyền gây bất lợi cho bà, tạo hình ảnh của bà là người bị dân Pháp trách, ghét thậm tệ. Cho đến khi nổ ra vụ án “chuỗi kim cương” của Marie-Antoinette. Bà bị tố cáo oan ức là đã dùng tiền của quốc gia mua một chuỗi kim cương trị giá 1,6 triệu bảng qua trung gian của Hồng y Rohan. Tuy rằng, vợ chồng La Motte bị kết tội, chính danh là kẻ lường gạt Hồng y Rohan, bà La Motte bị xử án tù và đóng dấu lửa “V” (voleur, ăn cắp) lên vai, ông La Motte thì chạy trốn qua nước Anh với chuỗi kim cương ăn cắp, nhưng danh tiếng của hoàng hậu Marie-Antoinette bị thiêu rụi hoàn toàn trong vụ án này.

Chuỗi kim cương trong vụ án vợ chồng La Motte lường gạt Hồng y Rohan

Cuộc cách mạng dân chủ Pháp gồm nhiều giai đoạn, đặc biệt trong 10 năm từ 1789 cho đến năm 1799, có nhiều sự kiện đẫm máu đã xảy ra. Đề tài cách mạng dân chủ 1789 rất rộng lớn vì nhiều diễn biến lịch sử khá phức tạp, trong phạm vi bài viết ngắn này tôi chỉ đề cập vài chi tiết để giải thích ảnh hưởng lên số phận của bà hoàng hậu Marie-Antoinette.

Sự kiện đánh dấu nổi bật nhất là việc phá ngục Bastille vào ngày 14.07.1789, và cho đến nay, ngày 14.07 hàng năm là ngày lễ Quốc Khánh của nước Cộng Hòa Pháp với diễn binh long trọng trên đại lộ Champs-Élysées và nhiều hoạt động lễ hội khác kèm theo.

Ngòi nổ của cuộc cách mạng dân chủ Pháp là tình trạng nợ nần của triều đình vua Louis XVI, kế thừa từ triều đình vua Louis XV, mà trong đó có chi phí của các cuộc chiến tranh đã qua như sự tham chiến của Pháp để giúp tướng Washington dành độc lập, xây dựng nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Chiến phí rất cao vì những tổn thất nặng nề của hải quân thời ấy, như của hai đạo quân Rochambeau và La Fayette. (Xem Dấu xưa…Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn).

Sự kiện tổng thanh tra tài chánh của vua Louis XVI, ông Jacques Necker, công bố sự thiếu hụt của ngân sách quốc gia năm 1781, thâu 503 triệu bảng, chi 620 triệu bảng, trong đó có 25% là ngân sách quân đội, 19% ngân sách hành chánh và 6% là ngân sách triều đình, làm cho dân chúng phẫn nộ.

Triều đình Louis XVI không thực hiện được cải cách thuế vụ vì sự chống đối của các thành phần ưu đãi, tức là giới quý tộc, lại còn cách chức Jacques Necker. Xã hội Pháp khi ấy gồm có 3 tầng xã hội theo thứ tự: Giới quý tộc, giới tăng lữ, gọi là thành phần ưu đãi có nhiều đặc quyền, và thành phần thứ ba tổng hợp bởi nông dân, công nhân, hành nghề tự do và giới chủ nhân. Trong giới quý tộc lại có sự chia rẽ giữa quý tộc quân đội (noblesse d’épée) và quý tộc do mua quan bán chức mà được mặc áo quý tộc (noblesse de robe).

Dân chúng, đại đa số là nông dân, phải gánh chịu gánh nặng thâu thuế của triều đình. Và không có gì nguy hiểm cho một quốc gia là đa số dân chúng bị đói kém. Giữa năm 1789 giá bánh mì tăng gấp ba, dân chúng thiếu ăn vì vật giá các loại tăng cao, nhiều đoàn người ăn xin kéo nhau đi lê lết khắp nơi. Sự bất mãn của dân chúng còn trải rộng trên các lãnh vực thương mại, giáo dục vì thương mại là để đem đến sự giầu có, và giáo dục là để đem đến kiến thức, để leo nấc thang uy quyền danh vọng trong xã hội.

Dân chúng muốn chống lại sự áp bức của guồng máy hành chánh chặt chẽ, và chống lại sự chiếm hữu đất đai rộng lớn của thành phần ưu đãi, quý tộc vùng, quý tộc nhà quê. Thành phần trưởng giả, có tài sản tiền bạc, cũng có tham vọng tham gia vào guồng máy quyền lực. Vào thời điểm này thì lòng dân đã chín mùi cho một cuộc nổi dậy vũ trang, mà mục đích tấn công đầu tiên là nhà ngục Bastille Saint-Antoine, biểu tượng cho uy quyền của triều đình quân chủ Louis XVI.

Khoảng năm ngàn dân tấn công phá ngục Bastille vào đêm 13.07.1789, với sự trợ giúp của một số tướng lãnh đã kéo mấy cỗ đại bác đến trước ngục Bastille, viên quản lý ngục Bastille là hầu tước Bernard-René Jordan de Launay đầu hàng, bị giết chết, đầu bị cắm trên cọc nêu, phơi làm gương. Nhà ngục Bastille, xây như một chiến thành từ năm 1370 cho đến năm 1383, bị phá vỡ hoàn toàn ngay sau ngày 15.07.1789 đó, ngày nay, trên nền cũ của nhà ngục là quảng trường La Bastille còn những hàng gạch đá trắng bị lửa đốt cháy đỏ hồng đánh dấu vị trí của nhà ngục.

Trong hai tháng “sợ hãi khủng khiếp” (la Grand Peur) 7-8/1789 nông dân nổi lên ở nhiều khu vực, tấn công các lâu đài và nhà thờ, tu viện, cướp bóc, giết chóc, tàn phá, đốt cháy thư viện, văn khố, chặt đầu xẻo mũi cắt tai luôn cả các tượng đá, cắt bỏ từng trang sách có hình ảnh vua chúa và giới tăng lữ.

Tầng lớp nông dân là tầng lớp nòng cốt của cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nhưng tầng lớp trí thức, dưới ảnh hưởng tư tưởng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Diderot, đặc biệt là giới luật gia, lãnh đạo tinh thần cho cuộc cách mạng. Bản tuyên ngôn nhân quyền của cách mạng dân chủ 1789 do khoảng 100 dân biểu thuộc thành phần thứ ba soạn thảo ra đời vào ngày 26.08.1789. Phụ nữ trí thức cũng nổi dậy có vũ trang đòi quyền bình đẳng với nam giới, theo đòi hỏi bình đẳng của bà Olympe de Gouges vào năm 1791.

Vua Louis XVI đứng trước một áp lực lớn chưa từng thấy, tập hợp bởi nông dân, phụ nữ, quân đội, trí thức, trưởng giả, ngay cả nhà thờ, trước đây vẫn là bạn đồng hành trung thành nhất với vương quyền, cũng đổi trận tuyến, đứng về phía cách mạng dân chủ. Sau nhiều biến động, vua Louis bị bức phải rời cung điện Versailles để về Paris, và phải chấp nhận nhiều thay đổi, cải cách về tổ chức chính trị, tư pháp như bầu cử, quy định xử án, tài chánh, thành lập các cơ cấu bảo đảm dân chủ như quốc hội (Assemblée nationale), tòa phúc thẩm (kháng án), tòa án tối cao…

Đang trong thời kỳ cao điểm của cuộc cách mạng dân chủ thì hoàng thái tử Louis-Joseph, con trai đầu tiên của Marie-Antoinette qua đời ngày 03.06.1789, chỉ mới được 8 tuổi. Đứa con trai thứ hai của Marie-Antoinette lên kế vị hoàng thái tử, tức là Louis XVII.

Bị quản thúc ở Paris từ tháng 10.1789, vua Louis XVI bèn tổ chức lén lút một cuộc chạy trốn với gia đình, giả làm gia đình thợ làm bánh mì. Họ trốn thoát được Versailles và Paris vào ngày 20.06.1791, nhưng đến Varennes-en-Argonne, thuộc vùng sông Meuse, Lorraine, gần biên giới Đức, Bỉ, thì bị một người hầu cận cũ nhận diện, bị bắt lại và giải về Paris chiều ngày 25.06.1791 và bị canh giữ cẩn thận. Từ đó, vấn đề hạ bệ vua Louis XVI được đặt ra.

Vào tháng 2 .1791 Marie-Antoinette viết thư cầu cứu anh trai là vua Leopold II với liên minh quân sự Áo-Hòa Lan, cứu hoàng gia Pháp, bảo vệ nền quân chủ và chống lại cuộc cách mạng dân chủ. Nhưng Leopold II chưa kịp có phương án gì thì qua đời vào đầu tháng 3.1792.

Ngày 20.04.1792 Pháp tuyên chiến với nước Áo. Bốn tháng sau, vua Louis XVI bị tước quyền lực và cả gia đình bị giam giữ ở Temple. Một tháng sau, trong phiên họp đầu tiên vào ngày 21.09.1792 quốc hội lập hiến (Assemblée législative) tuyên bố bãi bỏ vương quyền Pháp, thành lập chính thể cộng hòa.

Vua Louis, chỉ còn được gọi là ông Louis Capet, bị đưa ra xét xử về tội phản quốc và ngày 21.01.1793 bị chém đầu tại quảng trường La Concorde, Paris. Trước đó người bạn gái thân cận nhất của Marie-Antoinette, bà công chúa de Lamballe, bị chém đầu cắm vào ngọn dáo, đưa đi diễu khắp nơi.

Tranh khắc cảnh chém đầu hoàng hậu Marie-Antoinette tại quảng trường La Concorde, Paris

Sau đó Marie-Antoinette bị xa cách con, hoàng thái tử Louis XVII, mới 8 tuổi, bị đưa đi biệt giam. Rồi, chỉ sau hai ngày bị đưa ra tòa xét xử, cũng về tội phản quốc, hoàng hậu Marie-Antoinette, 38 tuổi, chỉ còn được gọi là “góa phụ Capet”, bị đưa lên máy chém tại quảng trường La Concorde ngày 16.10.1973.

Xác của bà, cái đầu đặt giữa hai chân, bị vất bỏ trong một cái hố chung ở commune de la Madeleine, đường Anjou-Saint-Honoré, cũng là nơi vất xác của Louis XVI, ngày nay là đền thờ nằm trên quảng trường Louis XVI (square Louis XVI) thuộc quận 8, Paris.

Chiếc giầy đánh rơi của hoàng hậu Marie Antoinette ngày bà lên máy chém

Tương truyền, đêm trước ngày lên máy chém, tóc của bà đổi màu trở thành bạc trắng toát, nên hiện tượng bạc tóc cấp tính này mang tên “hiện tượng Marie-Antoinette”. Khi bước lên máy chém, Marie-Antoinette đánh rớt một chiếc giầy, có người nhặt được, hiện nay chiếc giầy này được trưng bày trong bảo tàng của thành phố Caen.

Theo kích thước của giầy và áo còn lại, hoàng hậu Marie-Antoinette nhỏ nhắn, xinh xắn, chỉ cao khoảng 1, 63 mét, vòng ngực 103 cm, vòng eo 58 cm, đi giầy số 36 (theo kích thước hiện tại). Con trai thứ hai của Marie-Antoinette là vua Louis XVII chết trong ngục ngày 08.06.1795, lúc 10 tuổi. Chỉ có người con gái đầu, công chúa Marie-Thérèse-Charlotte (còn được gọi là Madame Royale) là sống sót qua khỏi cuộc cách mạng đẫm máu (1778-1851), nhưng tuyệt tự.

Marie-Antoinette được sử sách, chính sử và ngoại sử, đề cập đến nhiều, vì có những quy tội, kết án bà, chỉ vì bà mới châm dầu ngọn lửa cho cuộc cách mạng. Sự thật, những nguyên nhân dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ Pháp xuất phát từ những diễn biến xã hội chính trị kinh tế sâu xa và rộng lớn. Người đương thời khai thác một hình ảnh tiêu cực về Marie-Antoinette để hâm nóng lòng hận thù gia đình hoàng gia trực tiếp, đồng thời hận thù oán ghét chế độ quân chủ chuyên chế, một đòn chiến tranh tâm lý để thúc đẩy dân chúng nổi dậy.

Marie-Antoinette sinh ra và lớn lên là công chúa, lấy chồng là vua Pháp, trở thành hoàng hậu Pháp, sống một đời sống hoàn toàn xa rời thực tế, và không phải là một người có được hạnh phúc cá nhân, cuộc đời bà xẩy ra đúng vào buổi giao thời giữa hai nền chính trị hoàn toàn khác biệt. Tuy nhiên, thỉnh thoảng các nhà sử gia tìm ra và đưa ra vài điểm tích cực của bà, như bài báo mới đây, ngày 27.05.2013 trên tạp chí Le Point, diễn tả bà là người chú ý đến môi trường sống, tìm nguồn nước sạch, cho xây dựng nơi ở riêng (le hameau de la reine) ngay trong khu vực cung điện Versailles như một trang trại nhà nông với mái rơm, hành lang bằng gỗ, giếng đào, ao thả cá, đặt tổ ong, nuôi chim bồ câu, dê, bò sữa…, nơi bà về ở ẩn, mặc quần áo như một phụ nữ nhà nông, trốn lánh triều đình rắc rối nhiều chuyện. Chính bà đã ủng hộ cho giám mục Bá Đa Lộc được ký hiệp ước tiếp viện cho chúa Nguyễn Phúc Ánh thời ấy.

Đức giám mục Pigneau de Béhaine tức Bá Đa Lộc

Mặc dù thất vọng vì không thuyết phục được Nguyễn Phúc Ánh theo đạo, nhưng trước tình hình nhà Tây Sơn cấm đạo nghiêm ngặt, và để cạnh tranh ảnh hưởng với các nhà truyền giáo đến từ Anh, Bồ Đào Nha, Hòa Lan – nhất là ngăn chặn sự phát triển của nhánh đạo Tin Lành (protestants) – cho nên Bá Đa Lộc tiếp tục giúp đỡ quân Nguyễn Phúc Ánh qua cơn ngặt nghèo và đề nghị Nguyễn Phúc Ánh xin trợ giúp của triều đình Pháp. Dẫu sao, thái độ ôn hòa của Nguyễn Phúc Ánh đối với Bá Đa Lộc và công việc truyền đạo của các giáo sĩ gây niềm hy vọng cho sự bành trướng đạo Thiên Chúa lâu dài ở Việt Nam.

Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh trong bộ triều phục tại triều đình Pháp

Nguyễn Phúc Ánh ưng thuận gởi Bá Đa Lộc làm sứ giả qua Pháp xin cầu viện và để làm tin, Nguyễn Phúc Ánh giao cho Bá Đa Lộc một dấu ấn của vương triều chúa Nguyễn và đem theo Hoàng tử Cảnh, Nguyễn Phúc Cảnh, năm tuổi rưỡi, sinh ngày 6 tháng 4 năm 1780 tại Gia Định, con của Nguyễn Phúc Ánh và bà chánh thất Tống thị Lan, vợ thứ nhất, con gái quan Chưởng doanh Tống Phúc Khuông (sau được truy phong là Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu).

Bá Đa Lộc, khi ấy 44 tuổi, khởi hành cùng với Hoàng tử Cảnh và đoàn tùy tùng. Nguyễn Vương cho Nguyễn văn Liêm (Khiêm Quan Hầu) và Phạm văn Chơn (Long Chánh Hầu) theo phò tá Hoàng tử Cảnh. Cùng đi có cả giáo sĩ Paul Nghị.

Ngày giờ khởi hành chính xác của Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh không được ghi chép rõ ràng, nên theo Cadière phỏng đoán thì đó là ngày 25 tháng 11 năm 1784, lên thuyền tại đảo Poulo Panjang (tên Mã Lai), có nghĩa là cả đoàn đã rời đất liền, lên thuyền nhỏ để ra đến tận đảo này chờ lên thuyền lớn. Tôi tưởng tượng một cảnh như trong phim, mọi người, từ thuyền nhỏ, leo từng bậc lên cầu thang giây dọc theo sườn thuyền để lên trên. Chú bé Hoàng tử Cảnh chắc phải được cõng trên lưng một người cận vệ khỏe mạnh leo lên thuyền.

Đảo Poulo Panjang này có tên Việt là đảo Thổ Chu, hay còn gọi là Thổ Châu, đảo lớn nhất của quần đảo cùng tên Thổ Châu gồm có tám đảo, điểm cao nhất trong quần đảo là 167m, nằm trong vịnh Thái Lan, cách cửa sông Ông Đốc, Cà Mau, khoảng 200 km, hay 125 dặm Anh, về hướng Tây, cách đảo Phú Quốc 100 km về phía Tây Nam, cách thành phố Rạch Giá khoảng 192 cây số. Về hành chánh Thổ Chu xã đảo nay thuộc huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, khá lớn, diện tích khoảng gần 40 cây số vuông, không những rất tốt để trú ẩn ngoài biển khơi, dùng làm trạm liên lạc với các thuyền lớn, còn có thể làm nơi định cư lâu dài được. Biển và rừng trên đảo là nguồn lợi sinh sống của người dân đảo Thổ Chu.

Theo tin mới hiện nay thì các đảo lớn mang tên Hòn Cao Cát, Hòn Mô, Hòn Cao, Hòn Từ, Hòn Nước, Hòn Keo Ngựa, đặc biệt có Hòn Nhạn được chọn làm điểm chuẩn A1 của đường cơ sở dùng để xác định lãnh hải Việt Nam.

Rừng trên các đảo còn tốt, chưa hề bị tàn phá, có ít nhất là hai trăm loại thực vật khác biệt. Thời tiết ở đây mưa ít, nắng nhiều, vào mùa khô ở những khu vực có độ cao thường hay thiếu nước.

Quanh đảo có nhiều rạn san hô gặp phổ biến trong vùng, đã xác định được tất cả 99 loài san hô. Các rạn san hô trong khu bảo tồn biển là nơi làm tổ lý tưởng đối với các loài rùa biển đang bị đe dọa trên toàn cầu. Bên cạnh đó, các thảm cỏ biển tại khu vực là nơi kiếm ăn quan trọng của các loài rùa biển. Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây các loài rùa đến đây làm tổ đã giảm đáng kể, hiện chỉ có một vài tổ rùa được ghi nhận. Hiện nay mỗi tuần có một chuyến tàu sắt từ Rạch Giá-Phú Quốc ra Thổ Châu và ngược lại. Gần đây, đảo Thổ Châu đã có sóng truyền hình và sóng di động. Khu vực đảo Thổ Châu hiện nay được quân đội đảm nhiệm gìn giữ.

Tuy nhiên ngày Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh đặt chân lên đảo Malacca (Mã Lai) thì được ghi chép chính xác vào ngày 19 tháng 12 năm 1784, từ đó ông đi tiếp tục lên thuyền đi Pondichéry, và đến Pondichéry vào tháng 2 năm 1785.

Nhưng khi đến Pondichéry (Ấn Độ) rồi, Bá Đa Lộc gặp nhiều khó khăn. Hai nhân vật quan trọng tại thuộc địa Pondichéry là Tử tước de Souillac (vicomte de Souillac) và viên quan Tổng trấn de Coutenceau bác bỏ ý định của Bá Đa Lộc vói lý lẽ rằng, ý đồ xin cầu viện của Bá Đa Lộc trong thời điểm này là vô ích, triều đình nước Pháp đang muốn bỏ rơi các vùng thuộc địa tại Ấn Độ Dương cho quân Anh, đứng về mặt lực lượng quân sự thì đánh không lại một hải quân Anh quá hùng hậu, nước Pháp đang thở phào nhẹ nhõm vì không còn gánh nặng ở Canada nữa, triều đình Pháp sẽ không muốn mở thêm mặt trận mới, có thêm gánh nặng mới. Các viên chức Pháp đang trấn đóng ở Pondichéry không muốn mất đầu, nên có thái độ rất cẩn thận….

Bá Đa Lộc biết không trông mong gì được vào sự trợ giúp của hai người, de Souillac và de Coutenceau, ông viết nhiều thơ gởi Hội Thừa Sai và triều đình ở Paris. Tinh thần bị lung lạc, Bá Đa Lộc suy tính đến việc chỉ gởi Hoàng tử Cảnh cùng các cận thần và thông dịch viên về Paris, chuyển giao dự án cho Hội Thừa Sai thực hiện.

May sao Bá Đa Lộc tìm được những tiếng nói có thế lực giúp đỡ, cho rằng ông không vượt quá phạm vi truyền giáo, và tuy Nguyễn Phúc Ánh là người ngoại đạo, nhưng tình thân giữa hai người là đảm bảo cho sự thành công của dự án. Hội Thừa Sai chuyển thơ của Bá Đa Lộc về Giáo hoàng ở Rom. Sự kiện này đem đến kết quả tốt đẹp cho Bá Đa Lộc. Hai viên quan, de Souillac và de Coutenceau bị thay thế. Đại úy hải quân d‘Entrecasteaux thay thế de Souillac, và ông Charpentier de Cossigny thay thế de Coutenceau.

Cả hai quan mới đều đồng ý với dự án của Bá Đa Lộc, cùng đề nghị Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh cấp tốc lên thuyền đi Paris, không đòi phí tổn, trên một chiếc thuyền buôn mang tên le Malabar, khởi hành từ Pondichéry vào tháng 7 năm 1786. Còn hai ông thì ra lệnh cho Joseph de Richery làm thuyền trưởng chiến thuyền mang tên Le marquis de Castries, có đại úy de Berneron trợ tá, lên đường trinh sát vùng biển Cochinchine, tìm cách liên lạc với Nguyễn Phúc Ánh, và nếu cần thiết thì đem luôn Nguyễn Phúc Ánh về Pondichéry. Như thế Bá Đa Lộc mất tổng cộng khoảng mười tám tháng trường chờ đợi ở Pondichery, mới tiếp tục đi Pháp được.

Ông và Hoàng tử Cảnh cập bến Lorient vào tháng 2 năm 1787. Đoạn đường đi mất đúng hai năm, đủ thấy ông và Hoàng tử Cảnh cực nhọc rất nhiều.

Từ cảng Lorient, ngày 05 tháng hai năm 1787 Bá Đa Lộc viết thơ cho Bộ trưởng Bộ Hải Quân, Thống tướng de Castries, xin trình bầy vấn đề và yết kiến vua Louis XVI. Lá thơ trả lời của Thống tướng de Castries ngắn ngủi, lạnh lùng, cho biết rằng ông đã nhận được hai lá thơ của Bá Đa Lộc gởi từ Pondichery ngày 08 tháng 7 năm 1785, từ l‘île de France (hiện nay là đảo Mauritius trong Ấn Độ Dương, cách Madagascar khoảng 900 cây số đường biển) ngày 08 tháng 9 năm 1786, và cho phép Bá Đa Lộc cùng Hoàng tử Cảnh và đoàn tùy tùng về Paris, nhưng giao cho Hội Thừa Sai tiếp đón. Tướng de Castries lạnh lùng vì trách móc Bá Đa Lộc, khi đem Hoàng tử Cảnh đến Pháp, tức là đặt triều đình Pháp trước một sự kiện đã rồi, và không muốn tiếp đón Hoàng tử Cảnh theo vương lễ, nên đùn công việc tiếp đón cho Hội Thừa Sai Paris. Tại đây, phái đoàn Bá Đa Lộc và Hoàng tử Cảnh được các viên chức của Hội Thừa Sai đón tiếp rất niềm nở, vui mừng.

Trong khi đó, nhờ sự trung gian của giáo sĩ Paul Nghị, bôn ba nhiều lần đi về giữa Việt Nam và Pondichery để chuyển giao thơ từ, súng đạn, dụng cụ, vật liệu, hành lý, cũng như sự giúp đỡ của Charpentier de Cossigny, toàn quyền Pondichéry (người thay thế Coutenceau), gởi thuyền trưởng de Richery và de Berneron, chỉ huy chiến thuyền le Marquis de Castries lên đường đi Cochinchine, mà Nguyễn Phúc Ánh nhận được tin tức của Bá Đa Lộc. Giáo sĩ Paul Nghị và mười ba tùy tùng được de Richery và de Berneron đem đến đảo Poulo-Panjan (đảo Thổ Châu) vào ngày 01 tháng 9 năm 1786, cùng với lương thực đủ sống cho ba tháng, súng đạn, vật liệu, hành lý.

Nhưng vì nhiều sự hiểu lầm của de Richery và de Berneron, và thiếu phương tiện liên lạc khẩn cấp giữa ba người giáo sĩ Paul Nghị, Nguyễn Phúc Ánh và Bá Đa Lộc, mà dự kiến đem Nguyễn Phúc Ánh và gia đình về Pondichéry không được thực hiện. Nhiều bộ trưởng của triều đình Louis XVI chống lại một sự can thiệp ở Đông Dương, nhưng các nhân vật quan trọng Công giáo ủng hộ đề nghị của Bá Đa Lộc. Nhờ có sự giúp đỡ của ba nhân vật quan trọng trong triều đình, linh mục Vermont, thầy học cũ của nữ hoàng Marie-Antoinette, Giám mục địa phận Narbonne Dillon, và Loménie de Brienne, Giám mục Toulouse, vừa được bổ nhiệm tổng thanh tra tài chánh, và cả nữ hoàng Marie-Antoinette mà Bá Đa Lộc được gặp vua Louis XVI.

Tương truyền, nữ hoàng Marie-Antoinette đã cho may triều phục mới cho Hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh, và cho vẽ tranh cậu hoàng tử nhà Nguyễn.

Buổi gặp gỡ này được diễn ra vào ngày 5 hay 6 tháng 5 năm 1787, trước sự hiện diện của Bá tước de Montmorin, Thống tướng de Castries và một vài nhân vật quan trọng của triều đình. Bá Đa Lộc trình bày tình hình Đông Dương và những quyền lợi về kinh tế thương mại, vật chất, cũng như về việc truyền đạo Thiên chúa qua sự thuận tình của nhà Nguyễn. Thống tướng de Castries nhận trách nhiệm làm một bản báo cáo chi tiết về các nhu cầu của Bá Đa Lộc. (Trích Dấu xưa…Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, Mathilde Tuyết Trần, France 2010)

Chính ngay ngày hôm nay, khi xem trên truyền hình các đám cưới, lễ đăng quang của các công chúa hoàng tử vua chúa của những vương triều đang còn ngự trị như ở Anh, Hòa Lan, Thụy Điển…vừa qua, một thành phần dân chúng còn hoa mắt bởi những hào nhoáng xa hoa quá mức, say sưa bởi những chức tước, huân chương, thích thú bởi những cỗ xe ngựa dát vàng nệm nhung, những đoàn ngự lâm quân oai nghi sang trọng, những cung điện, những vườn hoa mênh mông…mà quên tự hỏi rằng những gia đình vương giả ấy sống xa hoa tột độ bằng những tài sản kếch xù vì đâu và nhờ đâu. Sau này, khi Napoléon tự xưng hoàng đế (empereur), thiết lập trở lại chính thể quân chủ tại Pháp (1804), thì cũng có ngôi hoàng hậu trở lại, nhưng các bà hoàng hậu sau chỉ sống một đời vương giả, không đáng cho hậu thế chú ý. MTT

 

 

 

 

 

Trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette

27. novembre 2020

Trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2015

Tôi vẫn thường ao ước khi nào có dịp, vì thỉnh thoảng đi xe ngang qua Versailles, vào thăm trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette.

Tranh vẽ Marie-Antoinette trong trang phục xuất hiện trước triều đình vua Louis XVI, vẽ bởi họa sĩ Jean-Baptiste Gautier-Dagoty vào năm 1875

Hôm nay nhân Hội nghị thượng đỉnh Paris về biến đổi khí hậu COP21 đang diễn ra với sự tham dự của 147 nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, khiến tôi lại nhớ về một bà hoàng hậu của nước Pháp. Trong thời đại của bà, Marie-Antoinette bị chỉ trích và phê phán nặng nề, oán ghét, chỉ với một lý do rằng bà là người tiêu xài hoang phí tài sản của quốc gia Pháp. Thế nhưng, có lẽ với lòng yêu một cuộc sống thiên nhiên, bình thường, bảo vệ môi trường sống lành mạnh, tiếp tục các phương thức canh tác, chăn nuôi, trồng rừng…tốt đẹp của tiền nhân để lại, chính hoàng hậu Marie-Antoinette mới là người “đi trước” thời đại lịch sử của bà.

Bà Marie-Antoinette là công chúa nước Áo, nên tuổi thơ của bà, lớn lên trong khung cảnh còn rất thiên nhiên của nước Áo thời ấy, khác hẳn một kinh đô ánh sáng, tột bực vương giả như Paris, hẳn đã ghi dấu ấn lên những kỷ niệm và sở thích của Marie-Antoinette khi phải rời xa vĩnh viễn quê hương của mình.

Là hoàng hậu, nhưng bà phải sống như con chim bị bắt nhốt trong cái lồng son, nhất cử nhất động đều bị ghi nhận, theo dõi, và không có tự do di chuyển như một người dân thường. Một khi đã phải chấp nhận đi một mình đến Pháp để cưới hoàng tử kế thừa Louis XVI thì bà không còn được trở lại quê hương nữa, nếu không có một lý do chính đáng và được triều đình chấp thuận.

Cung điện Versailles là cung điện lớn nhất nước Pháp, nằm trong thành phố cùng tên do vua Louis XIV sáng lập ra, là một trung tâm chính trị và văn hóa của Pháp trong suốt gần một thế kỷ (1682-1789). Hiện tại, thành phố này đã bị mất chỗ đứng thủ đô quân quyền của nó khi xưa, bị hạ giá thành một thủ phủ của khu vực hành chánh Yvenlines, dù vị trí địa lý của nó chỉ cách nhà thờ Đức Bà Paris (Notre Dame de Paris) có 16,8 cây số về hướng tây nam.

Năm 2012 thành phố Versailles còn nhiều di tích cổ, nguy nga, từ thời đại quân chủ phong kiến, có 85.424 dân cư, đa số thuộc thành phần trung lưu cao cấp và thượng lưu giàu có, vì nhà cửa đất đai trong khu vực này rất đắt, người dân hãnh diện là sống ở Versailles.

Lâu đài Versailles được tuyên bố là trụ sở triều đình của vua Louis XIV – Le Roi du Soleil (Vua Thái Dương) vào năm 1668. Kể từ đó ba đời vua dòng Capetiens cuối cùng: vua Louis XIV, Louis XV và Louis XVI đều trị vì ở Versailles, cho đến khi bị Cách mạng dân chủ 1789 tịch thu tất cả tài sản của hoàng gia.

Madame de Pompadour, hầu thiếp sủng ái của vua Louis XIV

Khuôn viên lâu đài Versailles rộng đến 7 mẫu đất, gồm có lâu đài Versailles và các lâu đài khác như Le Grand Trianon là nơi ở của Vua và gia đình vua, Le Petit Trianon là lâu đài xây cho người hầu thiếp sủng ái của vua Louis XIV là Madame de Pompadour, nhưng bà lại chết vào năm 43 tuổi vì bệnh phổi ngay trong cung điện Versailles, trước khi lâu đài Petit Trianon dành riêng cho bà được xây xong. Bà de Pompadour sở hữu hơn một chục lâu đài, trong đó có Hotel d’Evreux (thuộc tầm cỡ nhỏ hơn lâu đài) mà hiện nay chính là cung điện Élysée, nơi tổng thống Pháp trị vì. Xem trang phục của bà hầu thiếp Madame de Pompadour trên những tranh vẽ, lộng lẫy không hề thua kém gì trang phục của hoàng hậu Marie-Antoinette, nên không thể cho rằng, chỉ có hoàng hậu Marie-Antoinette mới phung phí tiền của do dân chúng đóng góp.

Sau này, lâu đài Le Petit Trianon được tặng cho vợ chồng Louis XVI và Marie-Antoinette, được trang trí lại rất lộng lẫy và có thêm một vườn hoa mới.

Một tấm tranh hiếm, vẽ ba người: quận công Maximilian Franz von Österreich (anh của hoàng hậu), vua Louis XVI và Marie-Antoinette, có thể được vẽ trong năm 1776 bởi họa sĩ Joseph Hauzinger

Nhưng hoàng hậu Marie-Antoinette có vẻ chán cảnh những cung điện quá sức lộng lẫy, xa hoa, thiếu vắng hẳn một không khí ấm cúng, gia đình của một cuộc sống “thật”, không phải là một cuộc sống ảo thường trực trên một sân khấu vàng son chỉ trong mục đích phô trương của cải, đầy rẫy những hận thù và ghen ghét của những nhân vật trong triều đình vua.

Hoàng hậu Marie-Antoinette cho xây dựng một nông trại trong khuôn viên của lâu đài Versailles, gọi là Le hameau de la Reine (nông trại của hoàng hậu), trong mùa đông 1782 qua 1783. Ý tưởng này của bà, tất nhiên hứng chịu nhiều chỉ trích, người thì cho là bà muốn gây ra một cái “mốt mới”, người thì cho là bà muốn có một chỗ ân ái riêng với tình nhân, người thì phê phán rằng cái gọi là nông trại cũng xa hoa như cung điện.

Nhưng người ta cũng cho rằng bà muốn xa lánh một đời sống có nhiều cản trở trong cung điện bởi luật lệ triều đình, hồi tưởng lại một cuộc sống dân dã bình thường của tuổi trẻ và dưới ảnh hưởng yêu mến khung cảnh, đời sống bình thường gắn bó với thiên nhiên và bảo vệ các truyền thống tốt đẹp của cha ông để lại qua các áng văn, các bài bình luận của triết gia Jean-Jacques Rousseau.

Vua Louis XVI tặng cho bà một mảnh đất vuông vắn để xây dựng nông trại nằm ở phía đông bắc của vườn hoa Anh (jardin anglais) của lâu đài Versailles. 48.621 cây các loại được người làm vườn Antoine Richard cho trồng lên để bao bọc khu vực trang trại của Marie-Antoinette, theo phong cách thiên nhiên được giữ ưu tiên, không cắt xén, tỉa tỉ mỉ từng chiếc lá một như trong khuôn viên của lâu đài.

Kiến trúc sư Richard Mique được ủy thác xây dựng nông trại của hoàng hậu Marie-Antoinette, và sử dụng mô hình của các nông trại vùng Normandie nước Pháp.

Trung tâm của khu nông trại là một cái ao đào nuôi cá để câu cá thư giản và ăn thường nhật, được vây quanh bởi 12 căn nhà xây dựng theo phương cách cổ truyền của người dân Pháp bình thường, có cả một chuồng nuôi chim bồ câu, dùng làm chim bay đưa thơ, một vườn trồng rau, một vườn trồng cây ăn trái, nhà chứa rơm rạ và củi khô để sưởi, một nhà xây bột quay bằng sức nước (moulin) và luôn cả một vườn trồng hoa.

Hai ngàn con cá chép và 27 con cá chó (brochet) được thả vào ao. Vườn rau và vườn cây ăn trái trồng cả hàng ngàn loại thực phẩm xanh như bông cải trắng, ác ti sô, đậu đen, đậu xanh Hà lan, dâu tươi, đào, mận, táo, nho…

Các nhà trong nông trại đều lợp mái rạ, tường vách làm bằng gỗ trát rơm rạ và vữa đất sét, chỉ có nhà ở của hoàng hậu được lợp ngói và xây bằng gạch đất nung, có ao nuôi cá, có chuồng nuôi bò, cừu, gà, vịt… Bà cho lựa chọn những giống gia súc lành mạnh nhất từ Thụy sĩ để đem về nuôi và lấy giống.

Theo ý muốn của hoàng hậu Marie-Antoinette tất cả các nhà trong nông trại đều có chậu hoa bằng sành sứ trồng nhiều loại hoa dân dã khác nhau.

Hoàng hậu Marie-Antoinette “sản xuất” ra đủ tất cả các loại thực phẩm từ nông trại của bà như sữa và trứng gà tươi, cá, thịt, rau củ, trái cây, hoa tươi…ban đầu cho nhu cầu của gia đình bà và các con, và sau đó nông trại của bà lại còn cung cấp thực phẩm cho cả triều đình. Chính hoàng hậu Marie-Antoinette, trong trang phục đơn giản, đội một cái mũ bện bằng rơm đã tự tay vắt sữa bò, sữa cừu. Các con của bà được cho đi lượm trứng gà đẻ ở khắp nơi trong vườn, như là một thú vui. Những bữa ăn được nấu nướng đơn giản hơn, ít mỡ hơn. Bà sống ở đây một đời sống không bị gò bó bởi những phép tắc luật lệ của triều đình, ngay cả việc bà ngồi hát và tự đệm đàn cho người thân trong gia đình ngồi nghe.

Trong một lần đến thăm trang trại, vua Louis XVI cho xây dựng một cổng thành chiến thắng ở ngay đường vào nông trại, ven lề rừng Onze-Arpents, để đánh dấu nơi ở của hoàng hậu nước Pháp. Cổng thành này mang tên Porte Saint-Antoine, có huy hiện con sư tử, huy hiệu của vua Louis XVI, và được xây dựng xong vào năm 1787.

Công trình kiến trúc trang trại của Marie-Antoinette đã tô điểm thêm vẻ đẹp hiếm có, độc đáo của cả khu vực lâu đài Versailles.

Cách bày biện đồ đạc và trang trí trong nhà ở của hoàng hậu Marie-Antoinette, tuy xứng đáng với ngôi vị của bà trong thời ấy, nhưng so với thời hiện đại thì không bằng sự sang trọng của tầng lớp nhà giầu mới tại Paris hiện nay.

Hình ảnh hai căn phòng ngủ, một trong cung điện Versailles, và một trong nhà ở của bà trong nông trại, nói lên một sự khác biệt rõ ràng, đơn giản hơn và thân mật hơn.

Cũng cần nên biết là các vua chúa Pháp đều có phòng ngủ riêng với vợ và con cái. Những phòng ngủ được trưng bày đều là phòng ngủ “giả”, họ ngủ trong những căn phòng “bí mật” trong lâu đài rộng mênh mông có cả ngàn phòng, để tránh bị ám sát khi đang ngủ.

Thế nên, ý tưởng của hoàng hậu Marie-Antoinette ở trong một ngôi nhà nhỏ trong nông trại có ý muốn nói rằng, bà không sợ bị ám sát chăng ?

Những người được vinh hạnh vào trang trại của Marie-Antoinette đều là những người thân cận, gia đình, và khi vào họ phải mặc quần áo lịch sự nhưng đơn giản. Tương truyền, thỉnh thoảng hoàng hậu Marie-Antoinette ngả vào vòng tay người tình của bà, công tước Fersen (comte de Fersen), trong một căn nhà nhỏ nhất của trang trại, mang tên là “boudoir”.

Hoàng hậu Marie-Antoinette khi bị đưa ra xử trước tòa án Cách mạng, tranh khắc của Alphonse François theo một tranh vẽ của Paul Delaroche. Bản án tử hình chém đầu được tuyên bố lúc 04 giờ đêm ngày 16-10-1793, bà bị xử tử vào lúc 12.15 phút cùng ngày. Giữa khoảng thời gian đó bà viết một lá thư cuối cùng gửi cho em gái của vua Louis XVI, nhưng mãi nhiều năm sau lá thư mới đến tay của vua Louis XVIII. Hiện lá thư này được cất giữ vĩnh viễn trong một hộp sắt trong Văn khố Quốc gia Pháp.

Nhưng cuộc sống êm đềm lý tưởng này trong khoảng 5 năm ngắn ngủi, đã bị chấm dứt theo lệnh của vua Louis XVI vào ngày 05-10-1789, hoàng hậu Marie-Antoinette và các con phải rời trang trại, để rồi không còn bao giờ có thể trở lại nơi này được nữa. Marie-Antoinette, chỉ còn được mệnh danh là “vợ góa Louis Capet” (họ của dòng vua Capétien) bị Cách mạng 1789 bắt giam và chém đầu vào ngày 16-10-1793 trên quảng trường La Concorde Paris.

Trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette tất nhiên bị cướp phá bởi Cách mạng 1789 rồi bị bỏ lúng vào quên lãng. Hoàng đế Napoléon 1er cho sửa chữa lại lần đầu tiên vào năm 1810-1812. Lần sửa chữa thứ hai, trước sức tàn phá của thời gian là vào năm 1930 bởi sự rộng lượng của tỷ phú Mỹ John Rockefeller Jr. Nhưng mãi cho đến năm 2006 trong thời đại của chúng ta, thì khu vực này mới được chính thức mở cho dân chúng vào thăm, dưới cái tên “Domaine de Marie-Antoinette”. Ngày nay, khi viếng thăm nhà ở của Marie-Antoinette trong nông trại, hậu thế chứng kiến và có thể mường tượng ra một khung cảnh sống rất riêng tư, rất thân mật của một bà hoàng hậu bị tai tiếng nhất trong lịch sử của dòng vua Capétien của nước Pháp. Có thể, người của thời đại xa xưa đó, ghét bà Marie-Antoinette chỉ vì bà là một công chúa nước Áo, là người Áo và tiếng nói mẹ đẻ của bà là tiếng Đức ?MTT

PS: Xin xem bài “Hoàng hậu Marie-Antoinette – đáng thương hay đáng trách ? ” trang mạng https://mttuyet.fr

Ngôi nhà ở và ao cá của hoàng hậu Marie-Antoinette trong trang trại Le hameau de la Reine thuộc khu vực cung điện Versailles – Pháp

Tổng thể cung điện Versailles với một diện tích là 7 mẫu (ha) đất, thiết kế theo hình ngôi sao 5 cánh.

Phòng ngủ của hoàng hậu Marie-Antoinette trong cung điện Versailles, nhưng bà không bao giờ sử dụng, chỉ có tính cách biểu lộ uy quyền

Phòng ngủ của hoàng hậu Marie-Antoinette trong nông trại Le hameau de la Reine, Versailles, đã được thiết kế mới lại.

Căn nhà nhỏ nhất trong Trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette, mái lợp rạ, tường vách xây bằng gỗ, rạ trộn vữa đất sét theo kiến trúc truyền thống của vùng Normandie Pháp, có tên là “boudoir”, tương truyền là nơi hò hẹn của hoàng hậu Marie-Antoinette với tình nhân, le Comte de Fersen.

Không ảnh về tổng thể khu vực “trang trại của hoàng hậu Marie-Antoinette” trong khuôn viên của lâu đài Versailles. Nhà ở, vườn hoa, vườn rau, vườn cây ăn trái, vườn hoa…đều được bố trí chung quanh một cái ao đào thả cá, và bao bọc bởi một cánh rừng trồng nhân tạo.

Tưởng niệm vua Duy Tân và tướng Charles de Gaulle -© Mathilde Tuyết Trần, France 2020

8. novembre 2020

Tưởng niệm vua Duy Tân và tướng Charles de Gaulle – © Mathilde Tuyết Trần, France 2020

A Georges Vinh San et Pierre Deschamps

Năm nay 2020 nước Pháp, đặc biệt trong bối cảnh dịch Covid và bị khủng bố cực kỳ ghê rợn, kỷ niệm tướng Charles de Gaulle bằng một „Năm de Gaulle“ cũng rất đặc biệt, kỷ niệm 130 năm ngày sinh của de Gaulle, 80 năm lời kêu gọi kháng chiến 18.6.1940 chống Đức Quốc Xã và kỷ niệm 50 năm ngày mất của de Gaulle.

Thời gian qua thật nhanh, không chờ đợi ai, nhưng những khuôn mặt lịch sử được nhắc nhở cho hậu thế, và cũng theo dòng thời gian, người đời sau gạn đục khơi trong nhận biết rõ ràng hơn tầm vóc của những anh hùng chân chính.

Vua Duy Tân mang cấp bậc thiếu tá của quân đội France Libre trước khi tử nạn. Bản quyền ảnh của Mathilde Tuyết Trần

Người Pháp chỉ tưởng niệm de Gaulle, nhưng người Việt không thể quên hình bóng của vua Duy Tân song hành cùng với lịch sử Pháp những 30 năm, kể từ khi nhà vua bị thực dân Pháp bắt đi đày ở đảo Réunion cho đến khi tử nạn trong chiếc máy bay rơi ở Cộng hòa Trung Phi khi nhà vua từ Paris về lại đảo thăm gia đình vào đúng dịp Giáng sinh năm 1945.

Quãng đời niên thiếu của vua Duy Tân ở Việt Nam cho tới năm 1916 đã được khai thác nhiều, nhưng quãng đời 30 năm dài của vua Duy Tân ở trên đáo thì ít người có sử liệu.

Vua Thành Thái, cùng bị đi đày với con trai là vua Duy Tân, thì vì thái độ chống Pháp bằng cách bất hợp tác trên đảo, tự đưa mình vào quên lãng của lịch sử, sống một cuộc đời dài đăng đẳng 30 năm „không có gì để kể“ trên đảo, cho đến khi được Pháp cho về lại Việt Nam năm 1947 sau sự tử nạn của vua Duy Tân.

Năm 1948 nước Pháp cho phép mọi thành viên trong hai gia đình Thành Thái Duy Tân được lựa chọn nơi định cư của mình giữa Nice, La Réunion và Việt Nam. Tất cả mọi người, trừ một người, lựa chọn về với Việt Nam. Nhưng vì thái độ của một bà cô mà những người con của Duy Tân lại từ Việt Nam trở về đảo La Réunion, rồi dần dần định cư tại Pháp đất liền sau này. Một nhánh hiện vẫn ở lại đảo.

Vua Duy Tân thì có thái độ khác cha, nhà vua tìm cách sống cởi mở, hòa hợp, kết bạn trong xã hội Pháp ở đảo. Nhưng vì vị thế đặc biệt của mình, một ông vua bị đi đày, sự tìm kiếm hòa đồng trong xã hội Pháp không phải không có khó khăn.

Vua Duy Tân trưởng thành, không còn là một thiếu niên 16 tuổi trong tầm mắt của người khác, được diễn tả là một người thông minh, nhanh nhẹn, hiếu động, cởi mở, hòa nhập vào tư tưởng phương Tây cùng với sự thông thạo hoàn toàn ngôn ngữ Pháp của ông.

Từ một thiếu niên có tính cách „dịu êm“, „rất dễ bị ảnh hưởng“ Vua Duy Tân trở nên „dữ dằn“ và „ranh mãnh, che đậy“ đối với người cai trị mình, có những biểu hiện „độc đoán“, ít có vẻ tôn trọng ngay cả với những vị quan đầu triều bộ trưởng mà tỏ ra thần phục những người cai trị như theo báo cáo của Ernest Roume năm 1915.

Ông J. Jacnal kể lại một câu chuyện trong cuốn sách Mémoires du Sud-Est của ông; „Duy Tân lấy làm hứng thú trong việc chế diễu những quan lại cao cấp của ông nhưng những việc có vẻ đùa cợt của vua không phải là không có hậu ý. Một lần, bộ trưởng bộ Lễ Huỳnh Côn tháp tùng vua đi dạo, bất chợt nhà vua bắt đầu chạy, và ra lệnh cho Huỳnh Côn cùng quan đồng cấp Nguyễn Hữu Bài phải chạy theo bắt kịp vua. Khi mọi người thở dốc theo không kịp, nhà vua quay trở lại gặp các quan khiển trách một cách chế giễu: „Làm sao các ông có thể đánh giặc được, khi mà các ông không thể chạy nổi ?“

Trên đảo, nhà vua ở riêng với cha, thuê nhà, sống bằng số tiền trợ cấp ít ỏi, thoạt đầu vua thuê nhà ở rue Marechal Leclerc, rồi chuyển nhiều lần địa chỉ, đến khi về ở góc đường Victor-Mac-Auliffe.

Georges Vinh San đã kể rằng: „Cha tôi chơi vĩ cầm, cưỡi ngựa, đánh kiếm, viết văn, diễn thuyết và làm thơ, nhưng niềm đam mê của Ngài là truyền tin.“.

Tài cưỡi ngựa của vua Duy Tân và hoàng thân Vĩnh Chương, là thợ máy, nổi tiếng trên đảo, trên trường đua hippodrome de la Redoute hai anh em đã thắng nhiều trận, tiếng vang vượt ra khỏi thành phố Saint Denis nơi gia đình Duy Tân ở.

Nhưng vua Duy Tân biết rằng, phải có thông tin thế giới mới chống lại được sự cô lập, biệt lập trên đảo. Vua tự học, rồi trở thành người sửa chữa máy radio, máy truyền tin trên đảo, vừa kiếm thêm tiền nuôi gia đình vừa có liên lạc, đó là điều quan trọng nhất.

Từ khi bước chân đi đày lên đảo, vua Duy Tân âm thầm chiến đấu một mình với số phận đi đày của mình, không biết ngày nào được trở về quê hương, nhưng đó là mục đích duy nhất cho mọi quyết định của nhà vua trong cuộc đời.

Ông A.Scherer, giám đốc cơ quan lưu trữ vùng, đã ghi nhận trong hồ sơ lý lịch do ông thiết lập rằng, vua Duy Tân tham dự vào một số tổ chức địa phương, là thành viên của hội „la loge l´Amitié de Saint Denis“, là diễn giả, được coi là người thuộc về cánh tả. Ngài chỉ hai lần tuyên bố giòng giõi hoàng gia của mình, lần thứ nhất trong buổi meeting của Mặt trận Bình dân năm 1936, và lần thứ nhì khi Nhật tấn công Đông Dương năm 1944, Ngài đã nhân danh hoàng đế Duy Tân gởi lời hiệu trị đến dân tộc trong nước.

Vua Duy Tân luôn nhấn mạnh rằng, nhà vua bị thực dân Pháp bắt đi đày, nhưng không bao giờ thoái vị.

Gia đình vua Duy Tân và bạn bè trên đảo La Reunion. Bản quyền ảnh Mathilde Tuyết Trần

Người ta đã nhiều lần đề nghị vua trốn thoát khỏi đảo để trở về Việt Nam, nhưng nhà vua từ chối, muốn trở về đường đường chính chính, và không ngại mọi thủ tục hành chính, mọi rào cản chính thức.

Để có thể được di chuyển, không bị quản thúc, vua Duy Tân nộp đơn vào quốc tịch Pháp vào tháng 7 năm 1929. Từ chối.

Trong những khoảng thời gian, tháng 12 năm 1929, tháng 7 năm 1932, tháng 4 năm 1935, tháng 6 năm 1936, vua Duy Tân nộp đơn liên tiếp xin được về ở Paris. Từ chối.

Vào những năm tháng, tháng 4 năm 1939, tháng 9 năm 1939, tháng 5 năm 1940, tháng bẩy năm 1940, tháng 9 năm 1940, nhà vua liên tiếp yêu cầu được nhập ngũ, nhất là sau lời hiệu triệu kháng chiến của tướng de Gaulle ngày 18.06.1940. Từ chối.

Và cũng vì lý do đó, mà vua Duy Tân bị chính quyền trên đảo đứng về phía Pétain bắt giam hành chính. Thế lực thực dân trong Bộ thuộc địa Pháp còn rất mạnh và đảo Réunion phần lớn theo chính phủ Pétain trong thời gian đại chiến thế giới lần thứ hai.

Mãi đến ngày 28.12.1942 khi chiến hạm Leopard của quân kháng chiến của tướng de Gaulle cập bến đảo La Réunion, vua Duy Tân lại có dịp nối lại yêu cầu của mình. Nhà vua được thâu nhận làm hạ sĩ quan truyền tin trên chiến hạm Leopard dưới quyền chỉ huy của thiếu tá hải quân Evenou (tự là Richard).

Nhưng sau 22 ngày trên chiến hạm, nhà vua được gởi về từ Monbassa, vì thể trạng không đủ sức chịu đựng. Duy Tân viết thư cho tướng de Gaulle, và được Ủy viên thuộc địa cho phép nhập ngũ vào bộ binh với chức vị hạ sĩ quan truyền tin (caporal radio-telegraphiste).

Trong bản tuyên dương công trạng trao tặng huy chương kháng chiến Pháp vào tháng 3 năm 1945, vua Duy Tân được vinh danh vào đúng sở trường truyền tin của mình:

Hoàng tử Vinh San, với một tư cách can đảm, với những lời bình luận của ông, và cho phép, tạo cơ hội cho nhiều người nghe được những chương trình phát thanh của đài nước Pháp tự do và đồng minh, những đài phát thanh bị cấm kỵ tuyệt đối, đã góp phần vào việc duy trì sống động ngọn lửa của Kháng chiến và niềm tin vào thắng lợi cuối cùng, đã bị bắt giam hành chính“.

Tướng de Gaulle đã lần lượt phong các chức vụ quân đội cho vua Duy Tân: thiếu úy 29.10.1945, trung úy (5.12.1943), đại úy (5.12.1944), tiểu đoàn trưởng (25.09.1945).

Trong cuốn Mémoires de guerre, oeuvres completes, quyển VI, tướng de Gaulle ghi lại vì sao ông gặp gỡ vua Duy Tân, sau khi đánh giá tình hình Đông Dương, ông nhận định rằng chế độ phong kiến ở Lào và Căm bốt vững chắc, không có gì đáng lo ngại, riêng tình hình Việt Nam phức tạp hơn vì sự hiện diện khác biệt giữa ba miền Bắc Trung Nam, làm cho ông phải đi từng bước.

Trong suy tính của ông, de Gaulle ra lệnh cho tướng Leclerc phải giữ vững miền Nam (Cochinchine) và Cam bốt, trước khi tiến đến miền Trung sau này, ở miền Bắc (Tonkin) ông chờ đợi ở quan hệ đã thiết lập giữa Sainteny và Hồ Chí Minh và chờ đến khi tình hình trở nên trong sáng hơn không còn một bóng đạo quân Trung Hoa.

Về phần đô đốc D´Argenlieu được biệt phái trước tiên đến Ấn độ, rồi từ Chandernagor quan sát tình hình, sau đó mới đến Saigon thiết lập mọi quan hệ cần thiết.

Tướng de Gaulle viết về vua Duy Tân (Mémoires, trang 108,109 cuổn VI):

Sau cùng để cho mọi việc có ích lợi, tôi nuôi một ý đồ thầm kín. Vấn đề là để cho cựu hoàng đế Duy Tân có điều kiện để tái hiện, một khi người kế vị và thân tộc là Bảo Đại chứng tỏ mình, một cách chắc chắn, đã bị mọi sự kiện vượt qua. Duy Tân bị nhà cầm quyền Pháp truất phế, trở lại là hoàng tử Vinh San và đi đày ở La Reunion, đã tuy nhiên, trong cuộc chiến tranh này, đứng về hàng ngũ quân đội ta. Ông được lãnh chức vụ thiếu tá (commandant). Đây là một con người mạnh mẽ. Ba mươi năm lưu đày không làm cho phai nhạt hình ảnh của vị vua này trong tâm khảm người dân. Ngày 14 tháng 12 tôi sẽ tiếp ông, để bàn với ông, từ người với người, những điều gì chúng ta có thể thực hiện cùng nhau. Nhưng, không vì những người mà chính phủ của tôi sẽ đi đến những kết luận thỏa thuận, tôi dự tính tôi sẽ thân hành đi Indochine trong tính cách trang trọng nhất để cử hành những hiệp ước khi thời gian đã tới.“

Tướng de Gaulle còn để mở một cửa về „con người“ sẽ ký hiệp ước với ông, nhưng ông đã dự tính là sẽ xuất hiện cùng với vua Duy Tân vào tháng 3 năm 1946 tại Saigon. D´Argenlieu được lệnh sửa soạn cho cuộc xuất hiện này.

Trong nhiều bài bình luận chống lại thực dân Pháp, nổi bật nhất vẫn là ý kiến cho rằng, vua Duy Tân trở thành „lá bài của de Gaulle“. Và có những nhà sử học đặt nghi vấn về nhận định của tướng de Gaulle mà họ cho là có thể sai lầm, làm sao mà ông có thể khẳng định được tâm hồn yêu mến của người dân Việt đối với vua Duy Tân sau 30 năm xa cách ?

Đứng về phía vua Duy Tân, cô thân cô thế, không có một chút lực lượng gì trong tay, quân lính không có, bạc tiền cũng không, chỉ có một tấm lòng, mơ ước của suốt ba mươi năm đã qua gần kề trở thành hiện thực, thì phải suy nghĩ làm cách nào có thể trở lại quê hương, mang lại đổi thay cho dân tộc và thống nhất ba miền lại làm một mối giang sơn gấm vóc ?

Cái kết quả thì người hậu thế đã trông thấy. Vua Duy Tân tử nạn máy bay ngày 26.12.1945 trên đường bay Paris-La Réunion trong một tình huống có nhiều nghi vấn, chỉ 14 ngày sau khi gặp gỡ tướng de Gaulle, và tướng de Gaulle cũng từ chức ngày 20.01.1946, chưa tới một tháng.

Biểu tượng của France Libre tại đài kỷ niệm de Gaulle ở Colombey-les-Deux-Eglises. Bản quyền ảnh của Mathilde Tuyết Trần

Sau 12 năm vắng bóng, tướng de Gaulle chỉ trở lại sân khấu chính trị nắm quyền lực vào ngày 01.6.1958 dưới thời tổng thống René Coty.

Để sau này, năm 1954 chính phủ Joseph Laniel loay hoay với chiến thắng Điện Biên Phủ, và người Pháp thực dân phải từ giã vĩnh viễn Indochine năm 1956.

Chiếc xe citroen bị trúng đạn trong vụ ám sát de Gaulle tại Petit Clamart, triển lãm trong viện bảo tàng de Gaulle. Bản quyền ảnh của Mathilde Tuyết Trần

De Gaulle Superstar“, tờ ParisMatch chạy tít chữ đỏ như thế trong tuần lễ này. Trên đường phổ của một thành phố nhỏ cũng thấy xuất hiện những tấm bích chương cỡ lớn đăng hình tướng Charles de Gaulle mặc quân phục, các đài truyền hình, các đài truyền thanh, báo chí, sách vở, phim ảnh…..đâu đâu cũng có bóng dáng người anh hùng của Pháp. Người ta về thăm tư gia La Boisserie, thăm viện bảo tàng, thăm nơi sinh ở Lille, thăm bãi biển nơi ông nghỉ mát ở Wilmereux, thăm mộ phần tướng de Gaulle ở làng Colombey-les-Deux-Eglises ….

Còn vua Duy Tân ?

Sau tai nạn vua Duy Tân được chôn cất tại chỗ M´Baiki ở Cộng hòa Trung Phi, mãi 42 năm sau, đến 28.03.1987 mới được chính phủ Jacques Chirac phối hợp với chính phủ Phạm Văn Đồng hỗ trợ để cho gia đình bốc mộ ở Trung Phi, chuyển về Paris rồi đem về Huế an táng. Bốn người con vua Duy Tân là Suzy, Georges, Claude et Roger theo linh cữu từ Paris về Huế.

Bà Antier, vợ vua Duy Tân về thăm Huế. Bà ước mong được chôn cất ở Huế, bên cạnh vua Duy Tân. Bản quyền ảnh Mathilde Tuyết Trần

Ngày kỵ của vua Duy Tân rơi vào ngày 22.11 âm lịch hàng năm (26.12. dương lịch), thấm thoát đã 75 năm ngày vua ra đi.

Bây giờ đại dịch Covid chia cắt, kẻ bên Tây người bên Đông như thời chiến tranh, khiến cho con cái ngậm ngùi không được về giỗ cha mẹ để thắp một nén hương. MTT

Các tác phẩm tham khảo:

  • Jean-Marc Goglione, Jean-Luc Nguyen Phươc, Prince, résistant et Réunionnais de coeur, dans Le Dossier, quotidien du samedi 23/12/1995, page 11

  • E.P. Thebault, Le tragique destin d´un empereur d´Annam, Extrait de France-Asie/Asia n° 200, Paris 1973,

  • Charles de Gaulle, Mémoires de guerre, Oeuvres Completes, tome VI, Librairie Plon, Paris, Club français des bibliophiles 1970-1974 (1970)

  • Mathilde Tuyết Trần, Dấu xưa…Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, nxb Trẻ, 2011

  • Mathilde Tuyết Trần, Vua Duy Tân những ngày cuối cùng ở Paris, trang mạng www.mttuyet.fr, 14.04.2018

  • Mathilde Tuyết Trần, Ký hiệu FR 8 VX của vua Duy Tân, trang mạng http://www.mttuyet.fr hay http://www.mttuyet.wordpresse.com

Lăng vua Duy Tân, Huế Việt Nam một ngày mưa. Bản quyền ảnh Mathilde Tuyết Trần

Phần mộ tướng de Gaulle và gia đình ở làng Colombey-les-Deux-Eglises, cũng một ngày mưa. Bản quyền ảnh Mathilde Tuyết Trần

La Boisserie trong mùa thu. Bản quyền ảnh của Mathilde Tuyết Trần

Mẹ già trong thời Covid – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

2. novembre 2020

Mẹ già trong thời Covid – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Bà nằm đó. Chỉ có hai con mắt hoạt động theo dõi những cử động của chúng tôi vào thăm bà. Trong mùa dịch Covid, ai vào thăm cha mẹ cũng phải ghi tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại và ký tên trên một cuốn sổ to ngoài cổng.

Mẹ chồng tôi năm nay đã 91 tuổi, bà nằm liệt giường vì đột quỵ từ năm 2001 đến giờ tính ra đã 19 năm. Từ một người phụ nữ năng động, ở nhà quê, thăn thể vạm vỡ, khỏe mạnh sau mười chín năm liệt giường thân thể bà dần dần sọp xuống, mặt hốc hác lõm sâu, cằm nhô ra, hai con mắt viền đỏ không còn vẻ tinh anh ngày nào, hai cái chân nặng và cứng đờ như hai khúc gỗ, cả thân hình chỉ còn cánh tay phải và cái đầu cục cựa, hai gò má nhô lên cao đỏ hồng, dấu vết của một sự sống bền bỉ.

Trong hai năm đầu, một mình tôi săn sóc bà, thoạt đầu trong nhà thương, rồi về nhà phục hồi sức khỏe, xong về nhà riêng, bà ngồi xe lăn, còn nói năng được bình thường, còn phụ được tôi mỗi khi đỡ bà di chuyển. Nhưng việc săn sóc một người bị liệt nửa người là một chuyện rất cực nhọc, vất vả, bận rộn suốt ngày. Có con mọn lại còn dễ chịu hơn, vì đi đâu cũng mang trẻ nhỏ đi theo được, có người già trong nhà thì không thể rời ra một phút nào. Chồng tôi đi làm suốt ngày, sáng sớm đi tối mịt mới về, mùa đông thì đi lúc trời còn đen, về đến nhà trời cũng tối đen. Chỉ còn tôi với bà mẹ, chợ búa, cơm nước, các thứ….Cũng may là còn thằng con, nó đi học về thì tôi vội vàng chạy ra chợ ngay để cho nó trông bà.

Từ sáng sớm bà đã gọi dậy để dọn ăn sáng cho bà, xong rồi thì cơm trưa, cơm tối, trà nước…không nói chi đến việc vệ sinh, tắm rửa, thay giường thay quần áo….Mỗi ngày bảo hiểm cho một người đến phụ một lần một giờ vào buổi sáng… Bà nặng trên 80 kí lô, tôi không đỡ bà nổi, phải có chồng phụ một bên. Thế nên bà rên rỉ suốt ngày, kể cả la mắng, sốt cả ruột gan. Người ta bảo, người già khó tính, tôi thông cảm hoàn toàn khi phải nằm một chỗ, mọi việc phải trông chờ, nhờ vả, nhờ đến cái chân, cái tay của người khác, lúc này thì thấy, có chân có tay là rất có ích lợi.

Chờ đến khi có chỗ trong viện dưỡng lão chúng tôi mới đưa bà vào đấy. Ngày đưa bà vào viện tôi sắm sửa cho bà toàn đồ mới, một chồng áo ngủ, một vài bộ đồ, khăn tắm, khăn tay, giầy đi trong nhà….và các thứ cần thiết. Vào viện bà vui hơn một chút, những bữa ăn chung với người đồng cảnh tạo cơ hội chuyện trò, xem ti vi tập thể, tập thể dục trên xe lăn. Mỗi cuổi tuần vợ chồng tôi đều vào ăn trưa với bà, thỉnh thoảng đón bà ra viện, đưa về nhà riêng, hay đưa bà đi ăn nhà hàng. Bà chỉ muốn ra viện, về lại căn nhà và vườn tược thân yêu.

Nhưng sự thay đổi quản lý của viện dưỡng lão đã làm thay đổi điều kiện săn sóc bà. Trước đây, viện do những bà sơ quản lý và phục vụ săn sóc hàng ngày, sau bị một hãng bảo hiểm mua lại, trở thành kinh doanh viện dưỡng lão phải sinh lợi, từ đấy sức khỏe bà giảm sút dần dần.

Mười chín năm là tiêu hao dần dần tiền để dành của bà, xong đến tiền bán đất đai đất ruộng trong sở hữu của bà, xong bán đến nhà của bà. Chồng tôi phải vay mượn nhà băng mua lại cái nhà của mẹ mình bị bán theo quyết định của tòa án. Tiền bán nhà rồi cũng hết, anh lại phải trợ cấp thêm hàng tháng cho mẹ để trả đủ tiền cho viện dưỡng lão, cũng theo quyết định của tòa án. Lương hưu của bà, một cựu nhân viên y tế làm việc trong nhà thương công, cộng với một ít trợ cấp của nhà nước không đủ để trả tất cả phí tổn của viện dưỡng lão.

Dần dần bà chìm vào quá khứ. Trước kia bà còn khen cái sắc tay của tôi đẹp, còn hỏi thăm đến những đứa cháu, dấu hiệu bà còn nhận thức được thực tế. Đến một lúc nào đó, bà kể chuyện, toàn là những câu chuyện với những người quen, người thân lúc bà còn trẻ và đã qua đời, những ký niệm đã mấy mươi năm chợt trở về sống động trong ký ức.

Tôi đem cái đầu trọc lóc vì hóa trị ung thư vào thăm bà để động viên bà vui, nhưng bà chỉ nhìn, không nói gì cả.

Một hôm vào thăm bà, anh ngạc nhiên khi bà không nhận ra con trai, nét mặt dửng dưng lạnh lùng hỏi ông là ai và đuổi ra, lại còn dọa sẽ la lớn gọi người đến. Hai lần, ba lần, bốn lần như thế…chồng tôi buồn bã biết rằng bà đã mất hoàn toàn trí nhớ

Trong đợt hai dịch bệnh Covid, tuy bà phải được tiếp sức bằng truyền nước biển và thuốc nhưng sức khỏe vững, trái tim vững, bà vẫn vượt qua được.

Bà nằm đó. Cuộc đời đã trôi qua. Bao nhiêu buồn phiền lo âu vất vả vì chiến tranh, cơm áo gạo tiền đã qua đi.

Đời bà, lúc tuổi trẻ, bà đã trải qua trận đại chiến thể giới lần thứ hai khốc liệt khi vùng Picardie bị quân Đức chiếm đóng, quê hương của bà và là tiền tuyến cuối cùng của Paris. Làng của bà, dân số chừng 500 người, bị quân Đức thị uy bắn chết ngay ông trưởng làng, thầy giáo làng và vị cha xứ nhà thờ làng, sau khi đã bắt ba người này phải tự đào mồ cho mình. Quân Đức cũng đã hàng đêm bắt phụ nữ trong làng phải tụ tập ở sân trước nhà làng, để chúng chọn người hầu hạ mua vui trong đêm. Hitler đã đến đây để chứng kiến sự đầu hàng của quân Pháp, của chính phủ Pétain.

Nước Đức đã ngừng trả bồi thường chiến tranh hai lần vào năm 1953 và năm 1990 cho hai trận đại chiến thế giới gây ra. Vì thế trên làng mạc hiện nay ở Picardie vẫn còn nhiều vết đạn trên tường, vết bom lủng lỗ chỗ, vết cháy như một nhắc nhở không thể quên trong dân chúng, cho người còn sống. Gia đình bà đã không nhận được gì bồi thường, chỉ có một cái bằng khen của tổng thống Mỹ Eisenhower đóng khung treo ngay ngắn trên tường.

Bà rất thất vọng khi người lính không quân Mỹ đã được gia đình bà cứu sau khi máy bay bị quân Đức Quốc Xã bắn rơi, đã trở về Mỹ, hẹn trở lại đón bà rồi thất hẹn. Vết thương lòng duy nhất và ẩn giấu của bà.

Cái duyên tiền định khiến cho tôi gặp bà, tôi sẽ viết lại một câu chuyện tình dang dở…nếu cũng tôi còn được sống. MTT

Ảnh Trương Ngọc Giao, BRD

Quyền và lợi của người phụ nữ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

20. octobre 2020

Quyền và lợi của người phụ nữ – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Bài viết này được viết từ năm 2008, nay đăng lại lần đầu tiên trên mạng và rút ngắn để bạn đọc tham khảo nếu muốn.

Tất cả mọi người đều được sinh ra bình đẳng và tự do trong nhân phẩm và trong quyền lợi. Điều một – Tuyên ngôn Nhân Quyền Thế giới

Hôm nay, mồng bốn Tết xuân Mậu Tý, tức là hai ngàn lẻ tám năm sau Thiên Chúa giáng sinh, tôi khai bút đầu năm với một đề tài tưởng là khô khan, nhưng thật ra là nhiều sóng gió, nhiều đau đớn, nhiều cay đắng và thú vị. Thú vị là vì sao ? Vì sự tranh đấu đòi hỏi quyền bình đẳng của phụ nữ trên quả địa cầu này vẫn còn tiếp diễn, hạ hồi chưa phân giải. Nhưng cũng chính vì, phụ nữ còn tự chấp nhận và thi hành những chính sách trọng nam khinh nữ ngay trong cuộc đời của mình, thì làm sao đòi hỏi các vị đàn ông „giải phóng phụ nữ“ cho được ?!

Trong khi suy nghĩ và tìm hiểu về chỗ đứng của người phụ nữ trong xã hội phát triển hiện đại, tôi chợt nhận ra rằng, song song vào đó, tôi đã tìm ra phần nào câu trả lời cho một câu hỏi về lịch sử đã ám ảnh tôi từ nhiều tháng nay – Tại sao mất nước về tay Pháp thời Tự Đức ? Theo suy nghĩ chủ quan của tôi thì, chính sách trọng nam khinh nữ xuất phát từ ảnh hưởng của Nho giáo du nhập từ Trung Quốc là một trong những yếu tố xã hội cơ bản đưa đến sự việc mất chủ quyền quốc gia hoàn toàn vào năm 1884, sau khi ký hòa ước Giáp Thân với Pháp (hòa ước Patenôtre).

Mãi đến năm 1948, cách đây đúng sáu mươi năm, vào ngày 10 tháng 12, năm tám quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc mới long trọng chấp nhận bản Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới gồm có ba mươi điều khoản tại Paris, Palais de Chaillot, và hứa hẹn bảo đảm tự do, nhân quyền, bình đẳng nam nữ, bảo đảm nền tảng gia đình, và tiến bộ, hòa bình xã hội cho mọi người. Một sự kiện quá trễ so với lịch sử của nhân loại. Nhưng chẳng thà, có còn hơn không.

Quan trọng hơn thời điểm của bản Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới là quá trình thực hiện từ sáu mươi năm nay đã đi đến đâu ? đã có những đổi thay nào cho người phụ nữ thế giới và riêng tại Việt Nam ?

Nếu đối chiếu các đặc điểm của chính sách trọng nam khinh nữ của xã hội quân chủ tuyệt đối với từng điểm của bản Hiến chương Nhân quyền, đã đặt lại vị trí xã hội của phụ nữ, thì tôi e rằng, bài tản mạn này sẽ vượt quá khuôn khổ của một sự gợi ý suy nghĩ, vì đề tài thật rộng lớn, có lẽ phải nghiên cứu suốt cả một đời người. Suy nghĩ hạn hẹp của riêng tôi, viết trên vài trang giấy, dừng lại ở một vài điểm mấu chốt trong vấn đề bình đẳng nam nữ và chỉ loanh quanh trong khung cảnh Việt Nam, mà tôi chủ quan cho rằng: Ngoài những quyền lợi khác cùng bình đẳng như người nam, ít nhất người phụ nữ phải có ba quyền lợi trọng tâm:

  • Quyền được đi học và mở mang trí tuệ
  • Quyền được bảo đảm nhân phẩm và thân thể
  • Quyền được ứng cử và bầu cử

Thành phần dân số thế giới hiện nay có quá nửa là phụ nữ. Nhưng sở dĩ các phong trào thế giới đòi bình đẳng, bình quyền nam nữ, tuy có đạt một số thành quả to lớn, để lại trong lịch sử những tên tuổi bất diệt như Clara Zetkin, Rosa Luxemburg…, cũng như ngày phụ nữ quốc tế 8.3 mỗi năm, lại không đem đến một sự tiến triển nhanh và đều đặn, vì ba lý do cơ bản: phụ nữ không có tình đoàn kết với nhau như nam giới, phụ nữ luôn luôn khe khắt với phụ nữ hơn là nam giới khe khắt với phụ nữ, và sau cùng, phụ nữ đối xử với nam giới rất trọng vọng, hơn là giữa phụ nữ với nhau. Tại sao ?

Đó là điều gây bức xúc nhất khi tôi suy nghĩ về đề tài phụ nữ.

Có nhiều lý do giải thích sự kiện này: sự ghen tị lẫn nhau của phụ nữ, ngay cả giữa chị em cùng cha mẹ với nhau, sự định nghĩa nhầm lẫn giá trị của bản thân mình qua giá trị của người chồng, và sự kiêu căng về quyền lực, sắc đẹp, địa vị, tiền của, tài năng….làm cho phụ nữ chia rẽ, lạnh nhạt, dè bỉu, chê bai, thậm chí tàn hại lẫn nhau. Con én làm nên mùa xuân, chứ không phải mùa xuân tạo ra cánh én. Nếu một con én không làm nổi mùa xuân, thì…hai, ba, bốn…cánh én phải hợp sức nhau lại. Đó là một quy luật bình thường trong trời đất mà người phụ nữ phải tâm niệm: Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Muốn có bình đẳng thì phụ nữ phải biết đoàn kết và thông cảm với nhau.

Giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh lưu ý tôi rằng, vị trí của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam có nhiều tiến triển và được luật pháp bảo vệ. Bộ Quốc triều hình luật đời Lê, soạn thảo đầu tiên từ năm 1468, tu bổ nhiều lần cho đến lần phát hành chính thức vào năm 1767, chứa đựng các điều khoản luật lệ 284-341 về gia đình, phụ nữ và trẻ con. Giáo sư nhận định rằng, có một sự khác biệt rõ rệt giữa sự thực hiện luật lệ, đạo đức Nho giáo và thực tế, trong các tầng lớp xã hội khác nhau. Thành phần dân dã sống ít gò bó, ép buộc trong khuôn khổ Nho giáo, khác với tầng lớp Nho sĩ. Các điều luật 388-400 ấn định về kế thừa, hai mươi phần trăm tài sản của cải do cha mẹ để lại phải được giao cho con trai trưởng, gọi là phần „hương hỏa“ thờ cúng tổ tiên. Đến năm 1472 và 1485 vua Lê Thánh Tông cho sửa đổi lại quyền thừa kế phần hương hỏa, nếu con trai trưởng không thực hiện được nghĩa vụ hương hỏa, thì người thừa kế là con trai thứ, nếu không có con trai nối dõi thì con gái trưởng là người thừa kế. Đạo luật này đem lại giá trị xã hội cho người phụ nữ được quyền có tài sản riêng và quyền kế thừa cha mẹ, khác với luật Trung Hoa không cho con gái có quyền thừa kế.

Tuy theo tập quán, người phụ nữ thường phải đi làm dâu nhà chồng, nhưng không hiếm có trường hợp người đàn ông phải đi gửi rể nơi gia đình nhà vợ. Do đó, người vợ giữ toàn quyền tự do như khi chưa có chồng, trong khi người chồng tùy thuộc hoàn toàn vào gia đình vợ. Trên thực tế, trong nếp sống gia đình, hai vợ chồng đều bình đẳng, bởi thế, trong ngôn ngữ, người ta nói „vợ chồng“ chứ không phải „chồng vợ“.

Hôn nhân không làm cho người phụ nữ bị biệt lập và hoàn toàn tùy thuộc vào gia đình nhà chồng. Bình thường người phụ nữ vẫn gìn giữ quan hệ với gia đình mình, với làng quê mình, để nếu khi bị bạc đãi thì có chỗ nương tựa. Vả lại, sự gắn bó sâu xa với gia đình chồng chỉ xảy ra khi người phụ nữ ấy có con.

Tuy nhiên, sự bình đẳng trên luật lệ không có nghĩa được thực hiện tuyệt đối trên thực tế. Xã hội quân chủ Nho giáo ràng buộc người phụ nữ bằng nhiều hình thức, không qua văn bản luật lệ, mà đánh vào cái gọi là lương tâm và tinh thần đạo đức của mỗi người.

Xã hội của chúng ta hiện tại có nhiều đạo luật tiến bộ, thể hiện bình đẳng nam giới như cho phép con cái được mang họ mẹ, cho phép chồng lấy tên vợ, cho phép cả gia đình mang họ ghép của cả chồng lẫn vợ, cho phép sống chung không cần lập hôn thú, cho phép kết hôn giữa người cùng giới tính, nhưng không phải vì thế mà người phụ nữ có bình đẳng trong xã hội. Sự kỳ thị, bạc đãi phụ nữ trở nên ý nhị hơn, nhất là khi người phụ nữ phải đi tìm công ăn việc làm để nuôi chồng, nuôi con, nuôi gia đình.

Là một phụ nữ, tất tôi có cái nhìn khác nam giới, không phải chỉ dựa vào những gì Nho giáo nói và viết, mà qua một thực tế đa dạng, đầy mâu thuẫn, và tôi xin trình bày, trên tinh thần thảo luận, qua vài điểm sau đây:

1. Quyền được học hành mở mang trí tuệ

Điều 26: (Tuyên ngôn Nhân quyền Thế giới)

  1. Tất cả mọi người đều có quyền được học hành. Giáo dục phải được miễn phí, ít nhất là ở tầng mức giáo dục căn bản và sơ cấp. Giáo dục sơ cấp là điều bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và giáo dục nghề nghiệp phải được phổ thông hóa; quyền được học ở Đại Học phải được mở rộng trong sự bình đẳng, theo khả năng, cho tất cả mọi người.

Người Đức có câu: Wissen ist Macht! Kiến thức là Quyền lực. Đúng thế, không có kiến thức, con người sẽ đi về đâu, trong cuộc đời mình, cũng như xã hội quốc gia dân tộc sẽ đi về đâu ?

Mới hôm qua, tôi trố mắt nhìn chăm chăm vào màn hình, khi đọc tin tạp chí Der Spiegel (Tấm gương), một tạp chí chính trị văn hóa cao cấp nhất của nước Đức, mở cách cửa cho mọi người trên thế giới biết đọc và viết tiếng Đức, tham khảo kho tàng lưu trữ tài liệu của mình, gồm cả triệu tài liệu lưu trữ, một cách trực tuyến thông qua mạng tin học Internet, mà không lấy tiền.

Các thư viện và các trung tâm lưu trữ văn kiện vĩ đại trên thế giới là những kho tàng kiến thức và văn hóa của nhân loại mở cửa hàng ngày đón tiếp người đến đọc sách, tham khảo, nghiên cứu. Nhưng có bao nhiêu người, có thì giờ, có điều kiện tinh thần và vật chất, và có trình độ hiểu biết đầy đủ để làm những công việc nghiên cứu ? Những „con mọt sách“ thường hay bị gia đình thân quyến bạn bè chế diễu là „tìm mãi không ra“ (Chercher mais pas trouver!), sống khiêm tốn giản dị, thậm chí eo hẹp…để được đọc sách suốt ngày. Sự thật là thế, càng đọc càng thấy hiểu biết của mình có giới hạn, và công việc tìm hiểu gây ra nhiều phí tổn tài chánh, không được tài trợ giúp đỡ.

Tình cờ, trong một cuộc trao đổi rất ngắn với một vị nữ giáo sư người Pháp danh tiếng quốc tế, tôi rất ngạc nhiên khi bà khẳng định ngay thế đứng của bà là bà không có thì giờ cũng như không thể viết cho quảng đại quần chúng được, và công việc của bà chỉ dành cho những người có trình độ nghiên cứu, đọc và hiểu được những gì bà viết và phát biểu.

Qua đó, tôi thấy rõ ràng ý nghĩa của câu Kiến thức là Quyền lực, và cái tháp ngà lộng lẫy kiêu ngạo của Kiến thức-Giáo dục hiện ra trước mắt. Mình đứng ở đâu trong đó ? và nếu có một chỗ đứng nhỏ nhoi, thấp kém thì mình làm gì trong đó ?

Chợt nhớ đến câu thơ: „Nhất Sĩ nhì Nông, hết gạo chạy rông, nhất Nông nhì Sĩ“, thì anh nông dân quê mùa đơn giản dốt nát nghèo hèn dễ thương hơn một kẻ Sĩ kiêu ngạo hợm hĩnh vì quyền lực hiểu biết của mình.

Trong suốt thời đại phong kiến ở Âu châu, chữ nghĩa là một quyền lực đặc biệt dành cho giới quý tộc và đại trưởng giả, đại đa số dân chúng không biết đọc và biết viết.

Còn trong suốt thời đại quân chủ phong kiến của nước ta, phụ nữ không có quyền được mở mang trí tuệ. Tất cả các cuộc thi cử trong phạm vi Nho giáo – Thi Hương, Thi Hội, Thi Đình – để tuyển quan lại cho triều đình (quan văn), chỉ dành cho các đấng nam nhi, các bà không được dự thi, mà có muốn thi cũng không được vì…không được đi học.

Tác giả Nguyễn thị Chân Quỳnh, trên con đường bênh vực cái hay cái đẹp của Nho giáo trong tác phẩm „Thi Hương“, cũng đã đưa ra nhận định như sau:

„ Phụ nữ cấm tuyệt không được đi thi. Thời xưa xếp phụ nữ ngang với trẻ con, coi là trí óc non nớt không đủ để bàn đến những chuyện quốc gia đại sự. Nhà Di-luân cùng phòng của Giám sinh đều cấm đàn bà con gái không được qua lại, thậm chí, theo Phạm Ðình Hổ, có người đàn bà đến cửa nhà Giám chỉ xin vào nghe một buổi bình văn mà cũng bị đuổi ra!

Con gái thường được học đến 13, 14 tuổi thì phải chuyển sang học nữ công. Những trường hợp như Hồ Xuân Hương, Ðoàn thị Ðiểm là ngoại lệ. Tuy nhiên, thời nhà Mạc ở Cao Bằng có bà Nguyễn thị Du đã cải nam trang thi đỗ Trạng nguyên (đỗ đầu thi Ðình) trong khi thầy học của bà chỉ được lấy đỗ thứ hai. „

Quyền được học hành mở mang trí tuệ được gắn liền với chỗ đứng của người phụ nữ trong xã hội. Phụ nữ bị cấm thi cử như những hạng trộm cướp, làm phản, làm giặc, xướng ca vô loài, quân sĩ, giáo dân hay có đại tang.

Quyền được học hành mở mang trí tuệ của người phụ nữ cũng gắn liền với sự phát triển về chính trị và ngôn ngữ của dân tộc Việt.

Theo một vài tác giả nghiên cứu về ngôn ngữ, họ nhận định rằng, tuy dân tộc Việt có tiếng nói riêng (tiếng Việt cổ) nhưng tiếng Hán của Trung Quốc, là ngôn ngữ viết thông dụng trong đời sống và trong giáo dục, trải suốt thời gian bị Trung Hoa đô hộ và áp dụng chính sách đồng hóa dân Việt. Tuy nhiên, việc sử dụng hai ngôn ngữ song song – tiếng Hán và tiếng Việt – trong một khoảng thời gian rất dài, đã đưa đến sự phát triển của một phần ngôn ngữ mới, từ vựng mới: Hán-Việt, tách bớt ảnh hưởng nặng nề của chữ Hán, đưa chữ viết Hán về một hướng phát triển khác tại Việt Nam.

Nhưng, sau khi các chiến thắng quân sự đã đem lại chủ quyền và độc lập dân tộc, trên bình diện văn hóa, chữ Hán vẫn được sử dụng lâu dài là văn viết, cho đến khi chữ Nôm ra đời. Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chỉ có thể cho rằng chữ Nôm bắt đầu được sử dụng vào khoảng thế kỷ thứ 11-12 (thời nhà Lý). Sự truyền bá phổ thông chữ Nôm có rất nhiều giới hạn, vì cách viết này cũng là cách viết (vẽ) tượng hình như chữ Hán, bằng bút lông và mực Tàu, tuy các người cấu tạo ra chữ Nôm cố gắng diễn đạt lại âm thanh của tiếng Việt nói, lại không có quy cách chính xác mẫu mực nhất định, không được xã hội chấp nhận là chữ viết chính thức của dân Việt.

Trong lịch sử Việt Nam, chỉ có hai vị vua chú ý đến sự phát triển của chữ Nôm, đó là Hồ Quý Ly (1400 – 1407) và Quang Trung Nguyễn Huệ (1788 – 1792).

Trên văn đàn xuất hiện vài tác phẩm bất hủ viết bằng chữ Nôm như Thiền Tông bản hạnh (đời Trần), Hịch Tây Sơn (vua Quang Trung, 1789), Truyện Kiều của Nguyễn Du…

Một thiểu số phụ nữ của thượng tầng xã hội, con gái vua chúa và quan lại triều đình, được giáo huấn tại gia, biết đọc, biết viết. Các công chúa, mệnh phụ phu nhân được cha mẹ hay sư nữ dạy thơ phú, thi luật, nữ công, sử dụng kiến thức của mình để làm thơ phú tiêu khiển thanh tao, xướng họa thơ văn, đọc sách, ngâm thơ cho chồng nghe, dạy con mình học. Các vị nữ học sĩ hay nữ thi sĩ nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam như bà Đoàn thị Điểm ( 1705-1746), Bà Huyện Thanh Quan Nguyễn thị Hinh (đời vua Minh Mạng), Hồ Xuân Hương (Bà chúa thơ Nôm, thế kỷ mười tám/mười chín)…đúng là những trường hợp ngoại lệ, đếm trên đầu ngón tay.

Thầy đồ dạy học tiếng Hán, Hán-Việt, hay tiếng Nôm trong các làng cũng chỉ là các ông. Bà Đồ, bà Tú…. chỉ là những người phụ nữ mang danh tước vay mượn của chồng.

Một điểm đáng chú ý trong các triều Nguyễn là triều đình vua quan văn võ đều sử dụng chữ Hán làm chữ viết. Vua Gia Long lên ngôi năm Nhâm Tuất (1802), cho xây dựng kinh đô ở Phú Xuân (Huế), các quan theo ông đều là quan võ, nên Gia Long cho xây dựng chế độ thi cử Nho giáo để đào tạo và tuyển quan văn, sử dụng Hán văn, đặt Văn Miếu ở các doanh, trấn, thờ Khổng Tử, dời Quốc Tử Giám từ Thăng Long vào Thuận Hóa.

Xem như thế, người bạn chiến đấu đồng hành đằng đẵng trong mấy chục năm trời của Nguyễn Phúc Ánh – Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), bỏ lại thân xác ở cửa Thị Nại khi đang hộ tống Nguyễn Phúc Ánh tiến đánh Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn – đã góp phần đưa đến các chiến thắng quân sự của Nguyễn Phúc Ánh, và việc lên ngôi của Nguyễn Phúc Ánh thành Hoàng đế Gia Long, nhưng Bá Đa Lộc – trong cố gắng lôi kéo Gia Long về ảnh hưởng Tây phương – đã thất bại hoàn toàn trước ảnh hưởng của Trung Quốc, một kẻ địch không có mặt trực tiếp trên chiến trường cục diện.

Thế mới thấy tầm mức sâu đậm của chính sách đồng hóa từ mấy ngàn năm của Trung Hoa đối với dân Việt.

Đây là một điểm mâu thuẫn của lịch sử mà tôi không hiểu nổi. Đọc trong các sách sử đời xưa, tôi chỉ tìm thấy vài thí dụ bảo vệ văn hóa Việt Nam điển hình như không chịu để tóc dài thắt bím, không mặc quần áo kiểu Trung Quốc, không nói tiếng Trung Quốc, không kết hôn với người Trung Quốc. Đứng về mặt quân sự, các cuộc chiến đấu mãnh liệt suốt mấy ngàn năm chống Phương Bắc nói lên ý chí quyết tâm dành lại độc lập tự chủ quốc gia dân tộc của Việt Nam, nhưng đứng trên phương diện văn hóa xã hội thì xã hội Việt Nam du nhập văn hóa Trung Hoa làm văn hóa của mình, gọi sách vở kinh điển của Nho giáo là « sách Thánh Hiền », đạo lý Nho giáo là « đạo lý Thánh Hiền », gọi những người học chữ quốc ngữ là „vong bản“ và chữ quốc ngữ là chữ „con nòng nọc“.

Cuối đời nhà Nguyễn, giai đoạn dài giao thời giữa hai nền văn hóa Hán – Nho giáo của Trung Hoa – và văn hóa Âu châu trong tám mươi năm Pháp thuộc – đã đưa đến một phản ứng chống đối cả hai bên, chống cả Tàu lẫn Tây. Tuy cay đắng, nhưng tiếc là các vị học giả tiền bối uyên thâm uyên bác không mở ra được một con đường mới cho một nền văn hóa độc lập tự chủ của dân Việt.

Vua Thành Thái, năm 1896, ý thức sự giao lưu cần thiết giữa hai dòng nước văn hóa Trung Hoa và Pháp – và Việt Nam ở giữa – giao phó cho Ngô Đình Khả mở trường Quốc Học Huế (hậu thân của Quốc Tử Giám, 1896-1975) giảng dạy bằng ba ngôn ngữ: tiếng quốc ngữ, tiếng Hán và tiếng Pháp. Quyết định này thật sáng suốt và thông minh, tuy nhà vua ngấm ngầm muốn lấy lại uy quyền, chống bảo hộ.

Song song vào đó, chính quyền bảo hộ Pháp cần có một tầng lớp cộng tác viên Pháp-Việt để cai trị, cho nên họ xúc tiến nhanh chóng công việc mở trường học đào tạo học sinh với hai ngôn ngữ chính: tiếng Pháp và tiếng quốc ngữ. Khoa thi Hán văn cuối cùng trong lịch sử Việt Nam là khoa thi năm 1919 dưới triều Khải Định, một năm sau khi Đệ nhất thế chiến chấm dứt.

Vua Bảo Đại (sinh ngày 22.10.1913 tại Huế – qua đời ngày 30.07.1997 tại Paris), vua cuối cùng của nhà Nguyễn đã suy tàn, được theo vợ chồng viên Khâm sứ Trung Kỳ Charles, là cha mẹ đỡ đầu theo sự ủy thác của vua Khải Định, sang Paris du học năm 1922, lúc mới lên mười tuổi. Năm 1925 vua Khải Định qua đời, Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy về nước thọ tang, đồng thời nhận lễ phong vương, đặt niên hiệu là Bảo Đại, rồi trở qua Pháp học tiếp tục, đến năm 1932 vợ chồng Khâm sứ Charles theo lệnh của chính phủ Pháp đưa Bảo Đại trở về nước chấp chánh.

Ba tôi sinh năm 1918, đồng thời với vua Bảo Đại, thế hệ của ông còn ở trong buổi giao thời, còn có thể lựa chọn học chữ Hán, chữ Nôm, chữ quốc ngữ hay tiếng Tây.

Tôi đọc tiếp bài „Lịch sử thi cử Việt Nam“ của Nguyễn thị Chân Quỳnh. Bà Chân Quỳnh khách quan đưa ra những ý kiến phê bình sự thoái hóa của Nho giáo, khi các bậc học giả thức thời muốn canh tân nền tảng triết lý và giáo dục của xã hội Việt Nam, trong thời Đông Kinh nghĩa thục:

Trong Việt Nam Quốc sử khảo Phan Bội Châu viết : « Trung Quốc bỏ khoa cử từ năm Canh Tý (1900), Triều Tiên bỏ từ năm Giáp Ngọ (1894), đó là một việc nhơ nhớp duy chỉ nước ta còn có mà thôi »« người ta mửa ra, mình lại nuốt vào ». Vì sao cha ông ta lại quá nặng lời như vậy ?

Phan Chu Trinh xuất thân Nho học, đỗ Tiến sĩ, mà lên án Hán học rất nặng lời : « Bất phế Hán tự, bất túc dĩ cứu Nam Quốc ! » (không bỏ chữ Hán thì không cứu được nước Nam). Phương Sơn sửa lại : « Bất chấn Hán học, bất túc dĩ cứu Nam Quốc » (không chấn hưng Hán học thì không cứu được nước Nam). Khoa cử hủ bại, chúng tôi đồng ý về điều ấy, còn Hán học đã đào tạo ra biết bao anh hùng, liệt sĩ thì sao ta lại phế bỏ đi?.

Huỳnh Thúc Kháng (1876-1948) tuy kết tội khoa cử, nhưng công nhận phần lớn lỗi ở người học đạo không đến nơi : « Mình nhận lối học khoa cử cùng lối học Tống Nho làm lối học Khổng, Mạnh, chính là chỗ hư, chỗ hở của người Tầu mà mình bắt chước « . Rõ ràng Huỳnh Thúc Kháng chỉ phê bình lối học « tầm chương, trích cú » chứ không nói trùm lấp cả lối kén người bằng thi cử, và chính ông đã ca tụng cái học cùng Khoa cử đời Trần, nhìn nhận nó gần chánh đạo. Lại cũng chính ông nghiêm khắc lên án thái độ của một số người theo tân học : Chẳng qua ngày trước nói Khổng, Mạnh thì ngày nay thay vào Hi lạp, La mã, Mạnh đức thư cưu (Montesquieu), Lư thoa (Rousseau), đổi cái « chi, hồ, dã, giả » bước sang « a, b, c, d ».

Phan Chu Trinh còn gay gắt hơn :  » Ngày trước học chữ Hán thì làm hủ Nho, ngày nay học Tây thì làm hủ Âu ».

Chính sánh « bế quan tỏa cảng » càng khiến ta thu hẹp tầm mắt, chỉ biết có văn minh Trung Hoa, ngoài ra không coi ai ra gì, tự kiêu, tự mãn cho mình là văn minh, không thèm học hỏi thêm. Nguyễn Tường Tộ viết : « mỗi khi chê Tây nhỏ yếu, thì mọi người hân hoan, vui vẻ, còn nói sự thật thì lập tức bị thoá mạ, nghi là ăn hối lộ của Tây, vì thế ai cũng cắn răng ngậm miệng, không dám nói sự thật ». Phái đoàn Phan Thanh Giản đi sứ Pháp về kể lại những chuyện mắt thấy tai nghe xứ người thì bị coi là nói chuyện hoang đường : « làm gì có thứ nước chảy từ dưới lên trên (nước phun trong công viên), và đèn gì lại chúc đầu xuống mà vẫn cháy được? ».

Cho đến thời điểm hiện nay, không ai ngạc nhiên gì khi vẫn có nhiều tác giả/học giả binh vực triết lý đạo giáo lễ nghĩa Khổng Mạnh trong xã hội Việt Nam và muốn khởi gây lên lại các giá trị đạo đức của Nho giáo Khổng Mạnh làm chuẩn mực tư tưởng đạo lý dân tộc căn bản cho hiện tại và tương lai của dân tộc Việt. Họ hãnh diện khi viết tên họ của mình bằng chữ Hán, xem như một biểu tượng của „trí thức“.

Nhưng, tại sao người Việt không xây dựng được cho chính mình một hệ thống căn bản triết lý đạo đức lễ nghĩa riêng biệt, song song với việc chọn lọc và học hỏi tinh hoa của những nền văn hóa khác ?

Trang trên mạng của Hương Kiều Loan đưa thông tin về một bài giới thiệu Văn Miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội:

Năm Canh Tuất (1010) vua Lý Thái Tổ rời đô từ Hoa Lư ra thành Thăng Long (Hà Nội ngày nay). Năm 1070, đời vua Lý Thánh Tông, cho lập Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và bốn môn đệ xuất sắc nhất của Khổng Tử là: Nhan Hồi, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử. Vẽ hình 72 người hiền, và bốn mùa cúng tế. Hoàng Thái Tử đến học. Năm 1076, đời vua Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám để con cháu quan lại biết chữ vào học. Việc thành lập Văn Miếu Quốc Gia Giám tôn kính các bậc Tiên Thánh, Tiên Hiền và đào tạo nhân tài cho đất nuớc đã chứng tỏ sự trưởng thành vượt bậc của tinh thần tự lập, tự cường, xây dựng quốc gia độc lập. Các vua Trần đã cho mở mang thêm vào những năm 1236, 1243,1253 và gọi là Quốc Học Viện. Năm 1428 vua Lê Thái Tổ mở mang thêm Quốc Tử Giám, chọn con cháu các quan và thường dân tuấn tú sung làm giám sinh Quốc Tử Giám. Năm 1444 nâng lên trình độ đại học gọi là Thái Học Viện. Năm 1453, Vua Lê Thánh Tông cho trùng tu lớn: Từ cửa chánh phía nam đi vào, hai bên dựng bia tiến sĩ : Qua cửa Ðại Thành và sân Ðại Bãi vào điện Ðại Thánh thờ Khổng Tử. Hai bên tả hữu thờ 72 người hiền. Nơi đây còn có điện Canh Phục và kho giữ đồ tế khí. Phía sau điện Ðại Thành là Quốc Tử Giám có giảng đuờng , kho chứa văn gỗ đã khắc thành sách và sáu dãy nhà, có 150 phòng cho các giám sinh ở và học. Ðầu thế kỷ XIX nhà Nguyễn chuyển kinh đô vào Huế. Văn Miếu Hà Nội đuợc trùng tu lớn. Xây tường bao quanh, dựng Khuê Văn Các và điện Khải Thành thờ cha mẹ Khổng Tử trên nền Quốc Tử Giám cũ. Năm 1947, điện Khải Thành bị chiến tranh tàn phá. Nay đang có dự án tồn tạo để tôn vinh văn hóa dân tộc. Ngày 25-1-1965 Ủy ban nhân dân Thành Phố Hà Nội quyết nghị thành lập: Trung Tâm Hoạt Văn Hoá, Khoa Học Văn Miếu. Quốc Tử Giám có chức năng: Quản Lý tổ chức hoạt động văn hoá khoa học, nghệ thuật, huớng dẫn du khách tham quan, lập quy hoạch tồn tạo di tích. Từ 1991-1995 Một số công trình của Văn Miếu Quốc Tử Giám đã đuợc tu sửa. Trong đó có 8 nhà che bia. Dự định đến năm 2000 việc tồn tạo sẽ hoàn thành. Văn Miếu Quốc Tử Giám là biểu tượng của nền Văn Hoá Giáo Dục Việt Nam, thời phong kiến, khơi dậy tinh thần dân tộc truyền thống yêu nước, hiếu học và trọng đạo lý của dân tộc.“ ?.

Các vấn đề khác nhau về Nho giáo do nhiều triết gia, học giả, đặt ra trên các phương diện triết học, đạo đức, ngôn ngữ, giáo dục đều là những vấn đề có tầm vóc thảo luận, nghiên cứu rất lớn, đi sâu vào chuyên môn. Để tránh gây mọi hiểu lầm, tôi xin nói rõ ở đây là tầm nhìn của tôi giới hạn trong cái thực tiễn cuộc đời người phụ nữ trong xã hội Việt Nam qua ảnh hưởng Nho giáo.

Khi nêu ra các nhược điểm và khuyết điểm của chữ quốc ngữ, Cao Xuân Hạo, người được coi là bậc thầy ngôn ngữ học trong thời đại của chúng ta, viết những hàng chữ trên giấy trắng mực đen, mà khi đọc, tôi phải dụi mắt mấy lần, tưởng mình đang ngủ mơ hay mắc chứng bệnh tâm „vĩ cuồng“ (Cao Xuân Hạo, Chứng vĩ cuồng:Hiện tượng và căn nguyên. Tiếng Việt Văn Việt Người Việt, nxb Trẻ, TP HCM 2003) của ông đã tả. Trong nhiều bài viết ông giáo sư đề cao chữ Hán, cho rằng:

„ Giá hồi ấy ông cha ta không sáng tạo ra chữ Nôm, mà cứ dùng chữ Hán để viết cả văn Hán lẫn quốc văn như người Nhật Bản đã làm (và hiện nay vẫn làm), nghĩa là mỗi chữ có hai cách đọc, Hán âm (Kan-on) và Quốc âm (Go-on), thì tình hình có lẽ đã khác.“

„Ngày nay nhiều người, trong đó có cả những nhà ngữ học phương Tây, đã thấy rõ những ưu điểm lớn lao của chữ Hán. Có người còn tiên đoán rằng chỉ vài ba mươi năm nũa, cả thế giới sẽ nhất loạt dùng chữ Hán để viết tiếng mẹ đẻ của từng dân tộc…“

„ Chữ viết không phải là phiên âm, vì ngôn ngữ không phải chỉ là âm thanh: nó còn có nghĩa nữa. Cho nên một hệ thống chữ viết lý tưởng phải phản ánh, ít nhất là một phần, cái nghĩa của từ ngữ. Từ cổ đại, loài người đã có một hệ thống chữ viết gần đạt đến cái lý tưởng ấy: chữ Hán. Một bằng chứng sáng rực của tính ưu việt của chữ Hán là hiệu quả tuyệt vời của việc sử dụng nó cho một ngôn ngữ thuộc một loại hình hoàn toàn khác tiếng Hán: tiếng Nhật, một thứ tiếng đa âm tiết thuộc loại hình chắp dính (agglutinating).“

Cũng trong nhiều bài viết Cao Xuân Hạo chê bai chữ quốc ngữ, không do „ông cha“ ta sáng tạo ra (các „bà mẹ“ ở đâu nhỉ !)

„ Trên bình diện ngôn ngữ học lý thuyết, chữ quốc ngữ không phải là một cách viết thích hợp với tiếng Việt.“

„ Một trong những cái tội lớn nhất của thực dân Pháp là nền giáo dục mà họ đã áp đặt cho dân ta. Nền giáo dục ấy không nhằm đào tạo một đội ngũ trí thức. Nó chỉ nhằm đào tạo ra một lớp nha lại. Ngay như môn tiếng Pháp họ cũng không thèm quan tâm sửa đổi cho kịp với sự tiến bộ của khoa học.“

„ Di hại của chủ trương ngu dân ấy cho đến ngày nay vẫn còn rõ mồn một.“

May thay, dù muốn bài trừ, thay đổi chữ quốc ngữ, Cao Xuân Hạo cũng phải công nhận rằng:

„ Và mặc dầu việc vay mượn kiểu chữ này của phương Tây, theo ý tôi, là một công việc có phần đáng tiếc, nó vẫn có một thuận lợi khá quan trọng ở chỗ nó đưa nước ta vào cái khối cộng đồng lớn của những nước dùng chữ Latinh trên sách báo, giấy tờ và biển hiệu.“

„ Chữ ABC đối với đa số quả có một ưu điểm lớn là học rất nhanh. Muốn đọc chữ ABC chỉ cần học vài tháng, trong khi muốn viết 1.200 chữ Hán thông dụng thôi đã phải mất một năm. Ưu điểm đó khiến cho chữ « quốc ngữ » đắc dụng trong thời Pháp thuộc, khi mà người ta cần thanh toán việc học đọc học viết tiếng mẹ đẻ cho nhanh để chuyển sang học chữ Pháp và tiếng Pháp. Nó cũng đắc dụng trong thời kháng chiến, khi cần thanh toán mù chữ cho thật nhanh để còn lo đánh giặc. „

Nếu vị giáo sư này sống đời đời, ông sẽ suy nghĩ sao khi thấy lớp trẻ ngày nay gõ máy tính lách cách lóc cóc (thay vì viết tay), xem màn hình nhay nháy suốt ngày (thay vì đọc sách), sáng chế ra những cái thứ gọi là ngôn ngữ mới (viết SMS), nói viết lẫn lộn hai, ba, bốn, năm… bẩy thứ tiếng ? và họ không có thì giờ ngồi học nắn nót vẽ chữ Hán vì „time is money“….vân vân. Nhưng biết đâu chừng, chính ông sẽ có lý, như trong một phim ảo tưởng…Der Rückkehr der Jedi-Ritter (Sự hồi hương của người Kỵ sĩ Jedi) !

Một trong những bước ngoặt của tiếng Việt viết là công lao của các Giáo sĩ Bồ Đào Nha và giáo sĩ truyền đạo dòng Jesuites của Hội Thừa Sai Paris chuyển âm ngôn ngữ tiếng Việt nói theo mẫu tự Latinh, trở thành „chữ quốc ngữ“, biến hóa một số từ vựng từ tiếng Pháp sang thành tiếng Việt (nhà ga, xe buýt, ô tô, cà phê, phở, đi văng, rờ mọc, xích lô, ba tê, la ghim, xúp, xăng, ban công, xe tăng, cà nông, Latinh …).

Tiếng Việt, chuyên chở bằng các mẫu tự Latinh và bộ dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng đặc biệt cho tiếng Việt, và quy luật phối hợp dấu giản dị (một âm có hai dấu), dễ học, dễ hiểu, dễ viết, phát huy thành những hình ảnh, âm thanh, giai điệu, nhạc điệu… một cách khá chính xác và phong phú, nhất là bằng những tĩnh từ tượng thanh và tượng hình, tạo cho người xử dụng một sự tự do khá lớn. Mỗi người viết tiếng Việt, chữ quốc ngữ hay chữ ABC, có một văn phong khác nhau, nhạc điệu khác nhau, hình ảnh khác nhau, ngay cả tình cảm thổ lộ trong văn cũng khác nhau, mỗi người một vẻ, cái hay ở chỗ: đọc văn là biết người, đúng như „Tây“ nói: Le style c‘est l‘homme. Các nhà văn nổi tiếng trên bầu trời văn học chữ quốc ngữ là minh chứng cho sự phong phú của tiếng Việt.

Sự kiện này, đem lại lợi ích rất lớn cho đại đa số phụ nữ – nếu không muốn nói rằng tiếng quốc ngữ, tiếng con nòng nọc, là một viên đá vững chắc lót con đường bình đẳng nam nữ – dù không được đến trường, cũng có thể tự học chữ quốc ngữ trong gia đình hay qua chị em bạn chỉ bảo nhau.

Biết đọc và biết viết, một việc tưởng chừng như tất nhiên trong thời đại của chúng ta, nhưng có phải thế không ? Không nói đâu xa xôi, có bao nhiêu bà mẹ của chúng ta được đi học, biết đọc biết viết, có cả trình độ đại học ?

Dù tiếng Việt viết thành „chữ quốc ngữ“ mới được truyền bá từ thời giáo sĩ A Lịch Sơn Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes) và từ thời đức Giám Mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine), tức là trong thời đại của vua Gia Long, đầu thế kỷ thứ mười chín, nhưng cũng nhờ phong cách chuyên chở mới của tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh mà khả năng hấp thụ các ngoại ngữ khác, các kiến thức khoa học thế giới, khả năng trao đổi thông tin…của người Việt tăng nhanh vượt bực.

Sau hòa ước Giáp Thân 1884, còn gọi là hòa ước Patenôtre, chính quyền bảo hộ Pháp nhanh chóng mở trường đào tạo nhân viên trung và hạ tầng như thông ngôn, thư ký, thầy giáo (trường Thông ngôn Hà Nội 1886, trường Hậu bổ 1903, trường Cao đẳng Sư phạm, trường Bưởi 1908…) giảng dạy bằng ba thứ tiếng chữ quốc ngữ, chữ Pháp và chữ Hán và mở các kỳ thi với các cấp bậc bằng cấp theo hệ thống giáo dục của Pháp tiểu học, trung học và đại học.

Con cái các nhà trưởng giả giầu có được ăn học, ngay cả con gái, nhập học trường Tây như các Trường trung học lycée Albert Sarraut ở Hà Nội, Trường Marie Curie (Saigon, thành lập năm 1918), Trường Lasan Taberd (thành lập năm 1873 ở Saigon, hậu thân của trường Collège d’Adran, hoạt động từ 1861 đến 1887), sau đó thêm một trường nữa vào năm 1894 ở Hà Nội, đặt tên là Trường Puginier, Trường Chasseloup-Laubat (thành lập năm 1875, sau được đổi tên thành Lycée Jean-Jacques-Rousseau, rồi đổi tên một lần nữa thành Trường Trung học Lê Quý Đôn)…

Một thiểu số nam nữ thanh niên con nhà đại trưởng giả được đi du học bên Pháp như Công tử Bạc Liêu hay bà Jeanne Mariette Nguyễn Hữu thị Lan, con của đại gia Nguyễn Hữu Hào, sinh năm 1914, xuất dương du học tại Pháp năm 1927, năm bà mới được mười ba tuổi, lấy bằng Tú Tài Pháp, sau này trở thành Nam Phương Hoàng Hậu, vợ vua Bảo Đại. Tuy thế, bà Nam Phương cũng theo „nề nếp“ ký tên là Bà Vĩnh Thụy (tên của vua Bảo Đại).

Trong buổi giao thời chuyển từ Đông sang Âu này, quyền được đi học và mở mang trí tuệ không còn là một độc quyền cho người nam. Các cụ nhà Nho cay đắng nguyền rủa: chỉ có hai hạng đàn bà lấy Tây, đó là đàn bà làm đĩ và đàn bà trí thức.

Tác giả Toan Ánh đã viết rất rõ ràng như sau:

„Trong ngôn ngữ Việt Nam ta có những thành ngữ « Thằng Ngô Con Đĩ  » để chỉ người Tàu và các bà vợ Việt, và sau này có danh từ Me để chỉ phụ nữ lấy chồng Tây phương: Me Pháp, Me Mỹ. Lớp me này rất bị chị em phụ nữ khinh bỉ, hành động lấy chồng Tây phương là một hành động mất gốc, lạc loài của hạng người đã đứt cỗi rễ. Chính các me này, thường là người trong lớp hạ lưu trụy lạc, nhưng họ vẫn tự cảm thấy sự âm thầm tủi nhục xót xa đau đớn, có khi còn hơn lớp phụ nữ đồng cảnh có trình độ học vấn và sinh trưởng trong những gia đình gọi là tử tế, lớp sau này đã bị văn hóa nước ngoài đầu độc, mất hết ý niệm quốc gia dân tộc – rất may bọn này không nhiều ! »

Xin hỏi: ai là người bị văn hóa nước ngoài đầu độc, mất hết ý niệm quốc gia dân tộc ?

„ Mặt khác, mấy chục năm sau khi bãi Khoa cử, bỏ chữ Hán, người dân quê vẫn một lòng tôn trọng chữ của thánh hiền và khinh rẻ chữ quốc ngữ. Trần Duy Nhất kể lại lời một nông dân, trong Nam Phong : »Học làm quái gì cái chữ cò quăm mách qué ấy ? Chữ thánh hiền nào lại có chữ thánh thế ? Thánh nào lại dậy những con cua, con ốc ấy ? đến đàn bà, con trẻ cũng thừa biết nữa là » và ghi thêm : » Phải cưỡng bách (học quốc ngữ), đến nỗi coi chỗ học đường là giám thất, cái học là cái tội, phải bắt bớ, phải chạy bậy mới được thả ra ».

Quá trình hình thành và phát triển có hệ thống của tiếng Việt viết (tiếng quốc ngữ) như thế là còn trẻ, so với những ngôn ngữ khác trên thế giới, chỉ mới từ năm 1886, tức là mới được có 122 năm, cho tới ngày hôm nay, nhưng nhờ vốn liếng phong phú của tiếng Việt nói vẫn được truyền khẩu trải qua mấy ngàn năm mà tiếng Việt viết và nói đã theo kịp đà tiến triển của thời đại.

„Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…“, quả thật tôi không thể tưởng tượng nổi sự sung sướng được viết và đọc ngôn ngữ của dân tộc mình một cách dễ dàng như hôm nay.

Cái tuyệt diệu nhất là sự tách rời hẳn hoi tiếng Việt khỏi tiếng Trung Hoa sau suốt mấy ngàn năm, một cách dành độc lập tự chủ cho tiếng Việt, đã thành công hoàn toàn. Ngày nay, người Trung Hoa nói và viết tiếng Trung Hoa. Người Việt viết và nói tiếng Việt, dù vẫn còn (phải) sử dụng nhiều khái niệm Hán-Việt. Có còn gì hơn ?

Nếu bây giờ tôi bắt đầu học chữ Hán, chỉ là để hiểu các văn tự lưu trữ viết bằng chữ Hán, chứ không phải để tuyên dương chữ Hán.

Từ ngàn xưa, qua con đường hấp thụ các thể loại văn chương truyền khẩu, thơ phú, tuồng tích, ca dao, tục ngữ, kinh kệ, bài thuốc nam, bài hát như hát trống quân, hát quan họ, hát ru em, hát giã gạo, hát giao duyên, đồng dao, các bài hò, các câu đố, câu đối…cũng như các kinh nghiệm và kiến thức thực tiễn truyền khẩu từ đời mẹ sang đời con, phụ nữ thuộc các tầng lớp xã hội gọi là thấp, tự thân vận động tiếp thu một trình độ kiến thức căn bản, không cần qua sách vở trường học, nhưng giới hạn trong những lãnh vực của đời sống hàng ngày.

Nước ta vốn là một nước chủ yếu sinh sống bằng nông nghiệp và ngư nghiệp. Đại đa số phụ nữ sống ở các vùng nông thôn, vùng biển, cáng đáng các công việc đồng áng, chài lưới. Từ những công việc có tính chất sản xuất, tạo ra nguồn lợi kinh tế gia đình như nhổ mạ, cấy lúa, trồng rau, trồng các loại hoa mầu, khoai cà, nuôi tằm, dệt vải, tưới nương tưới rẫy, mò cua bắt ốc, đánh cá, nuôi heo, trâu, bò, gà, vịt…, vá lưới, hái rau, hái trà, gánh nước, kéo nước, tạt nước ruộng đồng, phục vụ cơm nước cho thợ cầy đồng, đưa đò chèo xuồng chở khách, mua bán ven sông, ở chợ…. cho đến những công việc có tính chất phục dịch gia đình (nhà chồng) như hầu hạ bố mẹ chồng, mang bầu, đẻ con, chăm sóc và dạy dỗ con cái, đi chợ làm bếp, lau nhà rửa nhà, giặt giũ khâu vá quần áo cho mọi người….đều do bàn tay người phụ nữ lao động không mệt mỏi, ngày qua ngày lại.

Người phụ nữ – người vợ – bằng lòng với sự phân chia công việc: nàng lo thu nhập kinh tế gia đình để nuôi chàng ăn học. Sự phân công này đã bị xóa bỏ trong thời đại của chúng ta, đó là một điều may mắn cho phụ nữ lớp trẻ. Thời xưa, nàng quay tơ dệt vải, đem vải vóc tơ lụa bán ngoài chợ, bảo đảm kinh tế gia đình, chàng thì đọc sách ngâm thơ, lại còn được nuông chiều đến mức khỏi phải lo dầu cạn:

Sáng trăng giải chiếu hai hàng

Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ

Xin chàng đọc sách ngâm thơ

Dầu hao thiếp rót, đèn mờ thiếp khêu.

Bài ca dao này lại còn rõ hơn về sự thu nhập của người đàn ông Nho sĩ, lúc công chưa thành, danh chưa toại: một con số không to tướng !

…Nay anh học gần,

Mai anh học xa

Tiền gạo thì của mẹ cha

Cái nghiên cái bút thật là của em

Em thì canh cửi trong nhà

Nuôi anh đi học đặng khoa bảng vàng.

Thậm chí, chỉ bán có rau, mà cũng nuôi đấng chồng Nho sĩ ăn học, mình thì không được học:

Em là con gái Phụng Thiên

Bán rau mua bút mua nghiên cho chồng

Nữa mai chồng chiếm bảng rồng

Bõ công bón tưới vun trồng cho rau.

đến nỗi, không biết chàng đi học ở đâu ? Có lẽ chàng học hết chữ của thầy này, phải đi nơi khác tìm thầy học tiếp ?

Mùa hè cho chí mùa đông

Mùa nào thức nấy cho chồng đi thi

Hết gạo thiếp lại gánh đi

Hỏi thăm chàng học ở thì nơi nao.

Cuối thế kỷ thứ mười chín, ông Tú Xương vừa khen bà Tú, vừa cay đắng cho chính số phần của mình, không đạt được danh vọng như ý muốn, để cho vợ phải làm lụng kiếm ăn nuôi chồng vất vả:

Quanh năm buôn bán ở ven sông,

Nuôi đủ năm con với một chồng,

Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

Eo sèo mặt nước buổi đò đông,

Một duyên hai nợ thôi đành phận,

Năm nắng mười mưa dám quản công.

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:

Có chồng hờ hững cũng như không.

Còn ông thì tự cười mình, vừa để cho lương tâm khỏi cắn rứt:

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành

Mặt thời lơ láo, mắt thời xanh.

Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó

Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.

Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ

Rượu chè trai gái đủ tam khoanh.

Thế mà vẫn nghĩ rằng ta giỏi

Cứ việc ăn chơi, chẳng học hành.

Mãi cho đến giữa thế kỷ hai mươi, tình trạng phụ nữ không được đi học còn phổ biến. Quan niệm sử dụng phụ nữ cho công việc sinh đẻ bảo đảm dòng giõi gia đình (chồng), làm nhân công không lương tạo dựng kinh tế gia đình, phục dịch gia đình (chồng) là quan niệm chỉ đạo thống trị hoàn toàn tư tưởng của người phụ nữ.

Nền tảng của sự thống trị này dựa trên cái gọi là đạo đức lễ giáo, xuất phát từ Nho giáo, cơ bản của đạo Khổng. Tôi không dám lạm bàn ở đây về giá trị triết lí của đạo Khổng – của Khổng Phu Tử, sinh năm 551 trước công nguyên, là người sáng lập được gọi là Đức Thánh Khổng và của các học trò đồ đệ của Khổng tử sau đó – việc này xin để cho những nhà triết học uyên bác, mà chỉ xin nêu lên phần ảnh hưởng Nho giáo đàn áp đè nén phụ nữ trên cơ sở xã hội, kể từ khi Khổng giáo (Nho giáo) từ Trung Hoa lan truyền sang Việt Nam – và được xã hội Việt Nam tiếp thụ hoàn toàn từ đấy, chấp nhận Khổng giáo là giá trị đạo đức căn bản cho dân tộc Việt.

Sau thời đại Hai Bà Trưng, các vua chúa Việt Nam dùng hệ tư tưởng Khổng giáo của Trung Hoa, xây dựng lên mẫu mực đạo đức lễ giáo căn bản làm nền tảng cai trị nước và dân.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ viết trong cuốn „Người Việt đáng yêu“ về làng xã Việt Nam, đơn vị kinh tế và xã hội căn bản của dân Việt:

„… Làng là một đơn vị tôn giáo vì mỗi làng có một cái đình, một cái chùa, một cái miếu. Đình thờ Thành Hoàng làng…Chùa là nơi thờ Phật. Đền là nơi thờ các vị Thánh. Các làng văn học còn có Văn chỉ là nơi thờ Đức thánh Khổng.“

Sau bao nhiêu thế kỷ đô hộ ta, người Tàu ra đi để lại Khổng giáo, Lão giáo và …gò Đống Đa. Nụ cười đầy rẫy của ca dao còn văng vẳng:

Chẳng thà ăn cá giếc trôi,

Còn hơn lấy Khách mọc đuôi trên đầu.

Và nụ cười rất nhẹ nhàng nhưng cũng rất kẻ cả của Bà Hồ Xuân Hương khi qua đền thờ Sầm Nghi Đống ở phố Hàng Buồm:

Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo

Kìa đền Thái Thú đứng cheo leo

Ví đây đổi phận làm trai được

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu.“

Những người binh vực Nho giáo nói rằng, Nho giáo không có gì xấu, ngược lại, Nho giáo là những giá trị đạo đức tồn tại từ nhiều thế kỷ đáng được noi theo, chỉ có phương pháp áp dụng Nho giáo là có thể có sơ hở.

Các giáo điều chính trị trọng nam khinh nữ xuất phát từ đạo Khổng gọi là các nguyên tắc tu thân cho người nam như „Tam cương, ngũ thường“, và đặc biệt dành cho phụ nữ như „Tam tòng, tứ đức“, thực ra để bảo đảm một lề lối sinh hoạt và cai trị xã hội có giai cấp (Quân, Sư, Phụ), có đạo đức Nho giáo (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), có trật tự nam nữ ( tòng phụ, tòng phu, tòng tử), có phục dịch tôi mọi tự nguyện (công, dung, ngôn, hạnh), không xuất phát từ thời đại Hai Bà Trưng, mà nằm trong chính sách đồng hóa tư tưởng của Tầu trong suốt gần một ngàn năm đô hộ, đã để lại hậu quả tiêm nhiễm trầm trọng trong hệ tư tưởng của dân Việt mãi cho đến ngày hôm nay.

Tam cương là ba giềng mối của ba trật tự xã hội chính yếu: quân thần (vua và bầy tôi), phụ tử (cha và con), phu thê (chồng và vợ). Ba giá trị đạo đức Nho giáo „ bất trung“ , „bất hiếu“ và „bất nghĩa“ được định nghĩa từ Tam cương:

Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung.

Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu.

(Vua bắt bầy tôi chết, bầy tôi không chịu chết là bất trung.

Cha bảo con chết, con không vâng lời là bất hiếu.)

Một bạn học cũ của tôi, người thích nghiên cứu về chữ Hán và chữ Nôm, nhắn nhủ tôi rằng: „Đó là câu mà nhiều người thường hay trích dẫn để phê phán tư tưởng Nho gia phong kiến. Có nhiều người bảo của Khổng Tử, nhưng đã có người chứng minh rằng hoàn toàn không thấy xuất hiện trong các sách vở của Khổng hoặc Nho giáo chính dòng, mà có thể của một Triết Nho Gia nào đó sau này đặt ra nhưng không rõ tác nhân.“

Hiện nay chúng ta vẫn rất cần và rất trọng những người nghiên cứu chữ Hán, chữ Nôm, phiên dịch Hán-Nôm ra chữ quốc ngữ để có thể đọc và hiểu được các văn kiện lịch sử, văn chương, thơ phú, triết học…của dân Việt. Các nhà nghiên cứu tài tử như hạng tôi thấy văn kiện viết bằng chữ Hán và chữ Nôm thì khựng lại, bỗng nhiên biết mình „mù chữ“. Người Việt hôm nay, „chỉ“ biết đọc và biết viết chữ quốc ngữ, có khi còn chưa thành thạo, lỗi chính tả, lỗi văn phạm đầy rẫy, dấu hỏi dấu ngã lẫn lộn, dấu nặng chấm câu, dấu phẩy ngắt câu không thông, chưa kể đến văn phong nhạc điệu không chỉnh. Nếu tôi có phạm các lỗi văn phong tiếng Việt, nhân đây mong độc giả thứ lỗi cho dùm.

Đó không phải là một mâu thuẫn lịch sử hay sao ?

Một số câu ca dao cũng định nghĩa vị trí và công lao đặc biệt của người cha:

Còn cha gót đỏ như son

Mất cha gót mẹ gót con đen sì

Con có cha như nhà có nóc

Con mất cha như nòng nọc đứt đuôi

Khi người Pháp đặt chân lên Việt Nam vào cuối thế kỷ mười chín, bắt đầu thực hiện chính sách đô hộ…theo cách của họ, tức là theo Tây phương, và bắt đầu tìm hiểu về đất nước, con người, triều đình, xã hội Việt Nam, thì họ đứng trước một mô hình, một hệ tư tưởng gia đình gọi là Việt Nam mà trong đó người phụ nữ hoàn hoàn không có một giá trị gì cả, ngược lại họ phải lao động, đẻ con, nuôi con và phục dịch suốt đời. Còn nói chi đến quyền được đi học và mở mang trí tuệ.

Người vợ gọi chồng bằng „Thày“ và „Ông“, người chồng gọi vợ „bu nó, mụ ấy, bà nớ, cô ấy…“ như người không quen, mãi đến những thế hệ Việt Nam sinh sau Đệ nhị thế chiến, vợ chồng mới xưng „anh, em“ với nhau, gọi nhau một cách tình tứ: « mình ơi! », giới thiệu lẫn nhau: « Đây là nhà tôi ».

Alfred Schreiner nhận định trong tác phẩm Les institutions annamites (t.II) như sau:

„…l‘autorité paternelle chez les Annamites était absolue. Le père de famille avait pleins pouvoirs sur ses descendants: droit de disposer leur liberté, de leurs biens, de leur travail, comme des choses lui appartenant; droit de châtiment jusqu‘à la mort ! Il pouvait vendre ses fils, louer leurs services, les mettre comme gages entre les mains de ses créanciers“.

„ l‘autorité paternelle était sans bornes… Il s‘érigeait en juge suprême et châtiait jusqu‘à l‘extrême-limite. Bref, il avait sur les siens droit de vie et de mort“.

„…quyền lực người cha của dân An nam là tuyệt đối. Người cha trong gia đình thực thi rất nhiều quyền lực lên các người thân thuộc cùng dòng máu: quyền ấn định sự tự do, sự tư hữu, sự lao động của mỗi người, như một vật sở hữu của ông, quyền trừng trị hình phạt cho đến chết ! Người cha có thể đem con trai đi bán, cho thuê sử dụng làm sức lao động, thế chấp làm con tin cho chủ nợ. „

„…quyền lực của người cha là vô giới hạn…Ông trở thành vị quan tòa tối cao và trừng phạt cho đến mức . Tóm gọn, ông là người quyết định cuộc sống và cái chết của những người thân thuộc.“

Eliacin Luro khẳng định thêm trong tác phẩm « Le pays d‘Annam »:

„ Fast à cette accumulation de droits, presque aucune obligation n‘a été imposée au père à l‘égard de ses enfants, pas même celle de leur fournir des aliments“.

„ Đối nghịch vói sự tập trung mọi quyền lực, người cha gần như hoàn toàn không có một nghĩa vụ nào đối với những đứa con của ông, ngay cả không cần phải cung cấp thực phẩm cho chúng“.

Trong quan hệ vợ chồng thì giá trị đạo lý Nho giáo chỉ định nghĩa một chiều: Người vợ phải tuyệt đối chung thủy với chồng. Chồng không cần phải chung thủy với vợ, vì chồng có…nhiều vợ.

Thân em làm lẽ vô duyên,

Mỗi ngày một trận đòn ghen tơi bời.

Đàn ông ngoại tình được tha thứ. Nhưng đàn bà ngoại tình thì phong tục không dung, mà pháp luật Nho giáo trừng trị rất nghiệt ngã. Câu nguyền rủa „Đồ quạ mổ ! Đồ quạ rỉa !“ xuất phát từ hình phạt độc ác „bè chuối trôi sông“ của chồng đối với vợ:

„Chồng bắt được vợ ngoại tình có quyền gọt gáy bôi vôi, đóng cọc phơi nắng và nghiệt ngã hơn, lên quan, quan xử bè chuối trôi sông. Đây là một hình phạt hết sức nặng nề để xử những người đàn bà có chồng còn ngoại tình. Người ta kết một bè chuối và trói ghì người có lỗi trên bè chuối này, có khi để ngồi, có khi để nằm. Trên bè chuối có một mâm cơm, một ấm nước, một âu trầu. Tay người này có thể cử động để tự ăn uống lấy được, nhưng không tự cởi trói được.

Bè chuối mang phạm nhân được đẩy ra giữa dòng sông, muốn trôi đi đâu thì trôi, mặc trời mưa nắng. Trên bè chuối có cắm bản án kể rõ tội lỗi của phạm nhân. Bè chuối theo dòng sông trôi đi, nếu vì sóng gió giạt vào bờ một xã nào, dân làng xã ấy sẽ lấy gậy, lấy sào đẩy bè chuối ra. Người đàn bà có tội phải chịu chết trên bè chuối, rồi diều hâu, quạ, kên kên sẽ cùng nhau xâu xé thân xác người này“. (trích Toan Ánh)

Đạo đức Nho giáo cũng không kém cay nghiệt với những người góa bụa. Nếu không phải uống thuốc độc, thắt cổ tự tử chết theo chồng, hay bị chôn sống chung trong một hầm mộ, để chứng tỏ lòng yêu thương chung thủy với chồng, thì ít nhất, khi chồng chết, người vợ phải ở vậy suốt đời thờ chồng, chăm sóc mẹ chồng:

Bác mẹ chàng phơ phơ đầu bạc

Con chàng còn trứng nước thơ ngây

Có hay chàng ở đâu đây

Thiếp xin mượn cánh chắp ba theo chàng.

Nếu lấy chồng lần nữa thì trở thành bia miệng cho mọi người chê cười:

Ông chết thì thiệt thân ông,

Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.

Dù rằng phụ nữ không có chồng đã bị xã hội nhạo biếm:

Tròng trành như nón không quai,

Như thuyền không lái như ai không chồng,

Gái có chồng như gông đeo cổ,

Gái không chồng như phản gỗ long đanh,

Phản gỗ long đanh anh còn chữa được,

Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi.

Ngũ thường là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, huấn dụ con người cư xử có nhân đạo, có lẽ phải, hòa nhã, tôn trọng người khác, phân biệt thiện ác đúng sai, không sai lời hứa hẹn. Các giá trị đạo đức „bất nhân“, „bất nghĩa“, „bất lễ“, „bất trí“ và „bất tín“ được định nghĩa từ đây.

Tam tòng là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Dẫu rằng, việc gì tốt, như nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, thì mình học theo, các tôn giáo như đạo Phật hay đạo Thiên Chúa cũng đưa ra những chuẩn mực đạo đức tương tự.

Nhưng riêng bản thân tôi, nếu phải gìn giữ Tam tòng „tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, mà phu tử thì tòng tử“, là tôi chịu thua, không theo được.

Dân tộc Việt có chữ „Đức“, sống phải có đức với mọi người chung quanh và để lại đức cho con cháu đời sau. Cũng như cách nói rất nhân nghĩa : „vợ chồng đầu gối tay ấp“, hay câu ca dao:

„ Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con“.

nói lên rằng, núi Thái Sơn cao ngất tầng xanh còn đo được cao bao nhiêu thước…Tây, nhưng nước trong nguồn chảy ra thì…có bao giờ cạn. Trong câu thành ngữ „Của chồng, công vợ“, đạo đức Việt đưa người vợ, người mẹ (ít nhất) ngang hàng với người chồng, người cha.

Còn Tứ Đức của Nho giáo dành cho phụ nữ như công (làm việc nhà, làm lụng, lao động…), dung (có sắc đẹp, ưa nhìn…), ngôn (ăn nói nhỏ nhẻ, không to tiếng cãi cọ…), hạnh (ngoan ngoãn, vâng lời, hầu hạ gia đình…), không phải là những giá trị xấu, nhưng nếu chỉ có một chiều như thế thì bốn chữ ấy đưa phụ nữ lạc hướng vào con đường tôi mọi tự nguyện, tự hạn chế, mà không có phần tự phát triển trí tuệ và khả năng của chính bản thân mình. Quan niệm Nho giáo dành cho phụ nữ công, dung, ngôn, hạnh, so với quan niệm 3K bên Đức (Kirche, Kinder, Küche – Nhà thờ, con cái và bếp núc) hay quan niệm „femme au foyer“ (phụ nữ trong gia đình) bên Pháp, trói buộc người phụ nữ chỉ biết hầu cha hầu chồng hầu con, không khác nhau là mấy.

Phận gái tứ đức vẹn tuyền

Công, dung, ngôn, hạnh giữ gìn chẳng sai.

Ngay trong tục lệ tảo hôn, người phụ nữ phải lấy chồng quá già, hay phải một đứa con nít hai ba tuổi làm chồng, cũng phải làm trọn mọi bổn phận tam tòng tứ đức của mình.

Vô duyên vô phúc,

Vớ phải anh chồng già,

Ra đường người hỏi rằng cha hay chồng?

Nói ra đau đớn trong lòng

Ấy cái nợ truyền kiếp chứ có phải chồng em đâu !

…Bống bồng cõng chồng đi chơi,

Đến ao nước lội đánh rơi mất chồng,

Chị em ơi ! cho tôi mượn cái gàu sòng,

Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên !

Tục lệ lấy tên và chức tước của chồng để làm danh xưng cho người vợ, thí dụ vợ ông Phán Thông thì gọi là bà Phán Thông, còn tên thật của người vợ thì xem như là tên húy, tên cúng cơm, không được nhắc đến nữa, làm cho người đàn bà như „lột xác“, mặc một chiếc áo khoác và thuộc quyền sở hữu của chồng, mình không còn là mình nữa, chồng có danh có chức thì mình cũng có danh có chức.

Cùng thời ấy, các ông được phép lấy chính thức bốn vợ, và đa số phụ nữ chấp nhận cảnh chồng chung, vợ lớn, vợ bé, nàng hầu…đều ở chung dưới một mái nhà. Trên tờ giấy hôn thú dưới thời Pháp thuộc có điều khoản „Thứ hạng người vợ“ (Rang de femme): hạng nhất, hạng nhì, hạng ba và hạng tư.

Cộng thêm vào đó cái quan niệm chắc như đinh đóng cột của cả xã hội: „Con gái là con người ta, con dâu mới là con mình“, đã in ấn lên mỗi thai nhi gái từ khi mới lọt lòng. Lấy chồng thì phải làm dâu, xem như lấy cả gia đình họ tộc nhà chồng. Không có ai dám cãi lại.

Sông bao nhiêu nước cho vừa

Trai bao nhiêu vợ cũng chưa hài lòng

Trai tài năm thê bẩy thiếp,

Gái chính chuyên chỉ lấy một chồng.

Lý do xem như chính đáng nhất cho việc các ông được lấy bốn vợ, là để cho các ông có đích tôn nối dòng dõi. Các ông lấy bốn năm bà, có mấy chục đứa con, là lẽ đương nhiên. Các bà thường hay bị tử vong khi sinh đẻ, đó là vấn đề thứ nhất, các bà lại hay đẻ con gái, đó là vấn đề thứ hai, các bà sinh con thì các bà nuôi con bận bịu, làm lụng vất vả, nhan sắc kém tươi, tèm nhem tuốc nhuốc, ít có thì giờ hầu ông, đó là vấn đề thứ ba.

Đêm năm canh năm vợ ngồi hầu

Vợ cả pha nước têm trầu chàng xơi,

Vợ hai trải chiếu, chia bài,

Vợ ba coi sóc nhà ngoài nhà trong,

Vợ tư trải chiếu quạt mùng,

Vợ năm thức dậy trong lòng xót xa,

Chè thang, cháo đậu bưng ra,

Chàng xơi một bát khẻo mà công lênh.

Chàng mà „công lênh“ thì cả nhà đều khổ sở ! Nhưng nhất định chàng phải „đẻ“ ra con trai đích tôn, rồi con trai đích tôn phải „đẻ“ ra cháu trai đích tôn… „Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô“ hay nói nôm na rằng „ một trăm đứa con gái không bằng hòn giái thằng con trai“, theo các cụ.

Một trong những „tội“ nặng nhất của vợ là tội không đẻ con trai nối dõi cho chồng. Tội này đứng hàng đầu trong bẩy tội Thất sủng „chính đáng“ khiến cho chồng và gia đình chồng trừng phạt, ruồng bỏ đuổi đi (may phúc!) hay hành hạ người phụ nữ cho đến chết.

Bẩy tội đó là:

  • Tội thứ nhất: Không đẻ con trai nối dõi cho chồng.
  • Tội thứ hai: Không thi hành bổn phận người vợ.
  • Tội thứ ba: Không hầu hạ cha mẹ chồng hay phạm lỗi

đối với cha mẹ chồng.

  • Tội thứ tư: Nói nhiều và nói xấu người khác.
  • Tội thứ năm: Ăn cắp
  • Tội thứ sáu: Ghen tuông
  • Tội thứ bẩy: Tàn tật tâm thần hay thân thể

(theo Nguyễn văn Phong – Alfred Schreiner)

Luật thì ngắn ngủi như thế, nhưng sự „diễn dãi“ các hành động thành ra tội thì rất bao la tùy tiện tùy theo từng chi tiết một. Nói thật hay than van về những sự áp bức bất công của chồng và gia đình chồng thì bị gán tội „nói xấu“, ăn nhịn để dành đem chút quà về biếu cha mẹ ngày giỗ, ngày Tết thì bị kết tội „ăn cắp“ của nhà chồng đem về nhà mình, một ánh mắt nhìn (không lời) cũng bị kết tội là „ghen tuông“, còn nói chi đến định nghĩa và diễn dãi các tội thứ hai, tội thứ ba và tội thứ bẩy. Người chồng chỉ cần kết tội vợ „mụ này điên!“ là có quyền xua đuổi vợ.

Những người phụ nữ bỏ chồng, trốn đi, hay bị chồng bỏ, ly dị, bị xã hội kết án là „vô đạo đức“, mang dấu ấn suốt cuộc đời mình. Người chồng gặt hái sự thương cảm. Người đàn ông tình nhân gặt hái sự thông cảm. Người phụ nữ chịu đựng tất cả mọi sự chê bai, nguyền rủa.

Ngay thành phần sinh viên Việt Nam du học tại nước ngoài trong những năm sau 1975 của thế kỷ thứ hai mươi vẫn còn phát huy truyền thống Nho giáo – biến cải thành „đạo đức cách mạng xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Mao chủ tịch„ – phân biệt giữa người phụ nữ „có đạo đức“ và „vô đạo đức“ trong những trường hợp vợ chồng sinh viên son trẻ trở nên cơm không lành canh không ngọt, đưa đến ly dị, lập một thứ „tòa án nhân dân“ để tuyên án người làm xấu cộng đồng, cô lập người bị lên án, cấm không cho tham dự mọi sinh hoạt của cộng đồng, cắt đứt tất cả mọi quan hệ liên lạc. Kỳ dị nhất là các nữ sinh viên đang du học tại nước ngoài, sống trong một khung cảnh xã hội Tây phương, cũng tránh người „bạn gái cũ“ bị cộng đồng lên án „vô đạo đức“ như tránh hủi, sợ lây bịnh.

Thế hệ ba tôi còn được chính thức cưới bốn vợ. Trên tờ giấy hôn thú ký năm 1953 tại Gia định, để có thể làm khai sanh cho tôi, có điều khoản: Thứ hạng vợ (Rang de femme), má tôi có hân hạnh được làm vợ chánh hạng nhất (Premier) !

Năm tôi lên sáu, ba tôi dắt tôi đến trường đi học. Nghe nói „đi học“ là tôi sợ quắn đít, vì ai cũng dọa nạt trước rồi, mày mà không ngoan, không học thì bà giáo đánh chết. Sợ bà giáo đánh chết, tôi dẫy nẩy không chịu vào trường. Ba tôi bế tôi lên dỗ dành, tôi cứ thúc đầu gối vào bụng ông. Ông giận quá đem tôi về nhà, lấy cái thước bảng đánh cho mấy cái vào đùi thâm tím cả tuần không hết.

Trong đời tôi, người đàn ông thứ nhất đánh tôi là ba tôi, người đàn ông thứ nhì đánh tôi là chồng tôi, người đàn ông thứ ba đánh tôi là em trai tôi. Má tôi cũng trừng phạt tôi bằng roi vọt nhiều lần, mỗi khi em kế tôi khóc lóc bù lu bù loa nước mắt nước mũi chảy lòng thòng mét má: « Má ơi, bà chằng lửa ăn hiếp con ». Không cần biết chuyện gì đã sẩy ra giữa hai đứa con nít, con chị và con em cách nhau bốn tuổi, tôi phải nằm sấp xuống cái đi văng kê trong phòng ăn, sát cửa sổ, thường dùng làm chỗ nghỉ trưa cho chị bếp, má tôi kề cái chổi lông gà lên mông, hỏi: Tội này nặng mấy roi ? Dạ, năm roi (tối thiểu, theo kinh nghiệm!). Bà rầy, năm roi là còn ít, nhưng ăn đòn để chừa thói chòng ghẹo em. Thế là năm cái chổi lông gà quắn đít, lại còn cấm không cho khóc, khóc thì ăn thêm đòn.

Bị đánh là đáng đời chăng ? Lại còn có người mắng thêm cho „Không có lửa thì làm sao có khói ?“, hay „Có khiêu khích người ta thì ăn đòn là phải rồi, tất nhiên!“.

Tất nhiên ?

Nhưng mà, cũng phải nói đến Đức Chúa, lời phán của Chúa về công bằng và luân lý: „Trước khi ném đá người hãy tự xét chính mình.“.

Và, nếu phụ nữ không tự thay đổi đời mình thì ai có thể thay đổi cuộc đời cho người phụ nữ ?

Chính vì xuất phát từ quan điểm „con gái là con người ta, con dâu là con mình“ mà trong nhiều gia đình Việt Nam hiện nay, quan điểm xem con gái – một khi đã gọi là xuất giá ra khỏi nhà – như là „khách đến thăm“ còn phổ biến, là một „lễ giáo“ không thể thay đổi. Hệ thống tôn ti trật tự trong gia đình Việt Nam vẫn là « Cha – Con trai trưởng – Cháu nội trai trưởng ». Bất biến, bất di, bất dịch.

Sở dĩ tôi vạch áo cho người xem lưng, vì chính những sự kiện này phản ánh quan niệm trọng nam khinh nữ còn hiện hữu trong xã hội Việt Nam cho đến tận thế hệ của tôi, mà xã hội, tổ trưởng tổ phó, hàng xóm láng giềng, bè bạn….đa số đều làm ngơ, cho là chuyện riêng tư, ngõ nhà nấy quét, đèn nhà ai nấy sáng, chỉ biết lên án những người phụ nữ „vô đạo đức“, nhưng không có biện pháp giúp đỡ hay can thiệp những sự việc đàn áp, đánh đập, khống chế đến sinh mạng và trí tuệ của phụ nữ, chưa nói chi đến sự can thiệp của pháp lý, hay thông cảm, binh vực nạn nhân.

Đề tài phụ nữ hôm nay trên báo chí đặt trọng tâm trên những lãnh vực „lifestyle“, phong cách sống hiện đại: làm đẹp, sửa sắc đẹp, thi sắc đẹp, thi hoa hậu, từ mập thành ốm, theo thời trang, trang trí nhà cửa, chiều chồng, chiều con, nấu ăn ngon…, cũng là một cách đánh lạc hướng phát triển của phụ nữ.

Phụ nữ có thành công thì bị dè bỉu, châm biếm, nhất là nghi vấn „thành công qua cái gối đầu…“ dễ được mọi người tán thưởng.

Nhân một việc „tán gẫu“ về cô Tư Hồng thời xưa, bị mang tiếng là bênh vực phụ nữ, khi một người bạn học đồng thời (nam) của tôi, viết như sau, với một văn phong hiện đại, tân kỳ:

Cô lấy hai đời chồng một ông cắc chú, một ông tây. Cô là « me » tây (đó có phải là một tội?), cô buôn bán giàu có. Năm 1904 miền trung đói to, cô chở gạo ra cứu tế. Nhờ công đức đó (chữ công đức có cần phải để trong chữ ngoặc? « công đức »? ) vua Thành Thái sắc phong cô « Lạc quyên nghĩa phụ » và tước « Ngũ phẩm nghi nhân ». Người đời đàm tiếu. Có dư luận bảo mới đầu cô định đầu cơ gạo mang ra bán giá cao, sau sợ bị tội « đầu cơ » nên cô biến thành chuyện « phước thiện ». Thế thì chẳng biết đâu mà lần, cô là người tốt hay là con đĩ đầu cơ? Những dư luận đó là đúng hay là « độc miệng »? Cụ Nguyễn Khuyến làm thơ cho cô là « Đĩ có tàn có tán, có hương án lọng che! ». Em không biết đánh giá cô ra sao.

Em chỉ biết là qua sự cứu tế đó hàng ngàn người khỏi chết đói. Công đức của cô (nếu có) có thể .. to hơn nhà thơ Nguyễn Khuyến. Cụ cứu được bao nhiêu mạng? Nếu em là người sắp chết đói , em sẽ nhớ ơn « con đĩ » suốt đời! « Con đĩ » đó , động cơ nào không biết, đã làm việc tốt. Sao « con đĩ » Marie Madeleine có thể trở thành Thánh mà cô Tư thì không? Còn chuyện các cô Tư tân thời thì em chịu!

Chỉ có lần ngồi trong một quán lẩu ở sè gòn… Trong bàn nhậu của một lũ đàn ông.. vô tích sự (trong đó có em -:) ) .. em nghe là « nghe nói bả hồi xưa là bồ của… » . Thế đấy! Làm đờn bà hổng có dễ đâu nghen! Chúng ta, ai nấy đều thích.. ngồi lê đôi mách. Một người đàn bà thành công. Vì tài năng? Đáng ngờ! Nghe ba chớp ba nháng là « cổ là bồ của..  » thì .. ta tin liền! Nghe « con mẹ đó mà làm ăn cái gì! Toàn là nhờ lăn lóc .. trên giường » là ta .. tin sái cổ! Có lần một bác kể là người ta đồn bà bộ trưởng xx tiến thân bằng … nhan sắc! Em thấy nghi nghi. Dở hình bà ra xem thử thấy tuổi .. tròm trèm già .. như chúng ta. Nhan sắc đại khái thua người mẫu chân dài khoảng hàng trăm ký lô mét. Thế mà người ta tin! Bà này mà dùng nhan sắc thì có mà bị .. đuổi việc! Một dạng của … Machochismus!

Mới đây một nhà chính trị sử học trẻ, giáo sư Pierre Hillard (Pháp) đưa ra nhận xét về chính sách trọng nam khinh nữ tại Trung Hoa trong kế hoạch kiểm soát và hạn chế sinh đẻ. Ông cho rằng chính sách „một con“ nhưng nhất là một con „trai“ đem lại sự mất thăng bằng cho xã hội Trung Quốc trên nhiều lãnh vực, một phát triển theo chiều hướng tiêu cực rất lớn.

Sau khi nghe một số bài thuyết trình của Pierre Hillard, tôi tìm vài con số thống kê về Trung Hoa trên các mạng Internet – không bảo đảm được là chính xác – như sau:

Dân số Trung Hoa đạt con số 1.324.480.000 người vào cuối năm 2006, tức là tăng hơn 7,50 triệu dân so với năm 2005 – với một con số sinh là hơn 16 triệu và một con số tử là hơn 8,49 triệu người – trên một diện tích đất đai là 9,6 triệu cây số vuông, mật độ trung bình 136,9 người trên một cây số vuông, và chiếm 20% dân số thế giới. Tính ra cứ mỗi phút có 31 đứa trẻ, mỗi giờ có 1.827 đứa trẻ ra đời trên đất Tàu. Một sự phát triển dân số khủng khiếp. Khoảng 43,9% dân số của Tàu sống trong những vùng thành thị hóa.

Tỷ lệ đàn ông là 51,5% ( khoảng 674 triệu đàn ông), tỷ lệ đàn bà là 48,5% (khoảng 634 triệu đàn bà). Tỷ lệ trẻ sơ sinh con trai so với trẻ sơ sinh con gái là 119,25 trẻ trai trên 100 trẻ gái. Chính sách kiểm soát sinh đẻ áp dụng từ những năm 1970 đưa Trung Hoa đến một hoàn cảnh có một không hai trên thế giới: theo dự đoán thống kê, khoảng năm 2020 Trung Hoa sẽ có một số lượng đàn ông trẻ dư trội – trong tuổi lấy vợ – là 30 triệu người (không vợ). Cũng theo dự đoán thống kê dân số Trung Hoa sẽ tăng thành 1,45 tỷ người vào năm 2030.

Cách đây nhiều năm, các báo chí Tây phương đã phổ biến những tấm ảnh tử thi của trẻ sơ sinh gái, bị vất ra ngoài đường, nằm bên cạnh cống rãnh. Các biện pháp khác như phá thai (thai nhi gái) trước ngày sinh hay làm tuyệt đường sinh sản của phụ nữ đưa đến trình trạng dư nam thiếu nữ. Đây là hậu quả của chính sách „một con“ và tư tưởng chế độ phong kiến bảo thủ cũ „Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô“ của dân Tàu. Tuy nhiên, từ năm 2002, một số người, nhất là những gia đình giầu có tại thành thị, chịu trả „tiền phạt“ cho chính quyền để có thêm con.

Ngoài vấn đề thiếu thốn về nguồn năng lượng, vấn đề thiếu ăn đã được đặt ra từ ngày hôm nay, vì Trung Hoa sẽ phải cần có một số lượng ngũ cốc khổng lồ. Trong năm 2005 họ sản xuất một khối lượng ngũ cốc là 484 tỷ kí lô, nhưng vẫn còn thiếu khoảng 50 tỷ kí lô. Sức thu mua thực phẩm của Trung Hoa trên thị trường thế giới làm cho giá thực phẩm ở nhiều nước tăng lên, nhất là ở Âu châu.

Theo thống kê năm 2006 Trung Hoa có 106 tỷ phú, trong khi mức thu nhập trong suốt một năm tại nông thôn tương đương với 350 euros/người, và tại thành thị là 1.170 euros/người (chưa tới một trăm euros một tháng). Trình độ biết đọc biết viết khoảng 90% đàn ông và 86,5% cho đàn bà.

Thống kê của UNESCO của năm 2000 cho biết trên thế giới có 862 triệu người mù chữ (trên 15 tuổi), trong đó, tỷ lệ xóa mù chữ (Taux d’alphabétisation des adultes ) của phụ nữ chiếm 64%.

Khoảng 113 triệu trẻ em không được đến trường học (bậc tiểu học), trong đó có 57% trẻ em gái. Tính theo lục địa thì có 23 triệu trẻ em gái tại Phi Châu phía nam sa mạc Sahara, và 21 triệu em gái trong khu vực Đông Nam châu Á, không được đi học.

Được xếp hạng mù chữ, những ai, ngoài sự kiện hoàn toàn không biết đọc, biết viết, không có khả năng để đọc và hiểu được 60% một đoạn văn bình thường hoặc viết một đoạn để diễn tả một việc thông thường trong đời sống hàng ngày.

Không nói đâu xa xôi, ai có ngờ rằng, với 4 triệu người mù chữ, nước Đức có tỷ lệ xóa mù chữ là 95%, tức là khoảng 5% dân số bị xếp hạng mù chữ.

Còn nước Pháp ? Thống kê của viện INSEE vào năm 2006 cho biết nước Pháp có trung bình 13% người mù chữ trong hạn tuổi từ 18 đến 65 (tỷ lệ xóa mù chữ 87%, tức là trong một trăm người Pháp thì có mười ba người mù chữ).

Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc của năm 2005 về sự phát triển của nhân loại, trong đó các quốc gia được chia ra làm ba nhóm: nhóm phát triển mạnh, nhóm phát triển trung bình và nhóm phát triển yếu, thì Việt Nam, thuộc nhóm phát triển trung bình, đứng vào hàng thứ 105 trên tổng số 177 quốc gia, có tỷ lệ xóa mù chữ là 90%, tức là trong một trăm người thì có mười người không biết đọc biết viết.

Algérie, tuy đứng đồng hạng với Việt Nam, nhưng có tỷ lệ xóa mù chữ thấp hơn, chỉ có 69,9% dân chúng biết đọc, biết viết (tức là trong mười người thì có đến ba người mù chữ). Tỷ lệ xóa mù chữ trong nhóm phát triển trung bình thấp nhất thuộc về Bhoutan, chỉ có 47% dân số biết đọc biết viết (trong hai người thì có một người mù chữ!). Tỷ lệ xóa mù chữ thấp nhất thế giới thuộc về các nước Mali (24%), Tchad (25,7%), Guinée (29,5%).

Pierre Hillard cũng có nói lên sự quan trọng của giáo dục và vấn đề ngôn ngữ của mỗi dân tộc. Tôi đồng ý với nhận định của ông rằng công việc Giáo dục và công việc bảo vệ ngôn ngữ của mỗi dân tộc phải là công việc hàng đầu của xã hội ấy.

Ngôn ngữ càng phong phú, càng phát triển, có thêm những từ ngữ mới, có nhiều cách diễn đạt mới làm cho người sử dụng ngôn ngữ càng có nhiều tự do và khả năng diễn đạt hơn trong nhiều lãnh vực khoa học nhân văn và khoa học kỹ thuật, dân trí tăng cao, cho nên khỏi cần phải bàn luận đến sự suy đồi nhân trí bởi một ngôn ngữ nghèo nàn, đơn điệu. Các nhà dịch thuật có trình độ ngoại ngữ chính xác và kinh nghiệm sống tại nước ngoài là những người góp phần tích cực làm giầu cho ngôn ngữ dân tộc mình, cho nên công việc và thành quả của họ chớ nên xem thường.

Thế hệ nam nữ thanh niên Việt Nam trước tôi, lớp người được sinh ra sau Đệ nhị thế chiến, giữa những năm 40, năm nay đã trên sáu mươi, là thế hệ đầu tiên có cơ may trong đời được du học tại các nước kỹ nghệ tân tiến trên thế giới, nhiều người trở thành những giáo sư đại học nổi tiếng thế giới.

Năm tôi mười bẩy, qua cái bằng Tú Tài hai, là ba má tôi cho rằng học như thế là đủ rồi, muốn gả chồng theo lời hứa hẹn với một gia đình bạn. Đến lượt thế hệ tôi, thế hệ năm mươi, đi du học từ những năm cuối 60, đầu 70, con số nữ sinh viên còn rất ít. Tôi nhớ mang máng rằng trong số một ngàn sinh viên nhập học tại Đức thì chỉ có khoảng tám mươi nữ sinh viên. Con số này ngày nay tôi không kiểm chứng được, không còn ai nhớ nguồn gốc ở đâu, nhưng đúng trên thực tế, vì nữ sinh viên quá ít, nên chị em bạn và mọi sinh viên nam đều biết lẫn nhau rõ ràng, ai học ở đâu, học gì, và học trường nào.

Thế hệ sau tôi, đúng là „hậu sinh khả úy“, cả trai lẫn gái đều ham học, có nhiều người tài giỏi, nhất là các thiếu nữ đều cho việc đi học là một việc „tất nhiên“, thật là một điều đáng mừng. Các bạn trẻ có một ưu điểm rất lớn so với lớp thế hệ tôi, đó là khả năng hấp thụ sinh ngữ. Nhiều người trẻ nói, viết thông thạo một trăm phần trăm hai, ba, bốn, năm thứ tiếng, không như trình độ tiếng Tây, tiếng Đức, tiếng Anh nửa mùa của tôi.

Khả năng sinh ngữ mở ra một sức phát triển rất lớn cho bản thân và cho xã hội. Vì thế xã hội Việt Nam cần thiết phải tổ chức sự giao lưu của lớp trẻ trong và ngoài nước, trong tinh thần học hỏi cái hay cái đẹp của văn hóa người để xây dựng văn hóa của chính dân tộc mình.

Một số không ít người lên tiếng chỉ trích lớp trẻ ngày nay là „mất gốc, vong bản“, nhất là lớp trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên tại khắp nơi trên thế giới. Xin hỏi ở đây: gốc nào ? gốc Nho giáo Khổng Mạnh hay gốc Việt Nam ? Thế nào là gốc Việt Nam thuần túy ?

Dân Việt đã chẳng có câu „Đi một ngày đàng học một sàng khôn“, lớp trẻ Việt Nam ngày nay, sống rải rác trên khắp thế giới, học hỏi mỗi ngày vạn điều hay có, dở có, của những xã hội khác nhau, có một tầm nhìn rộng rãi hơn, cởi mở hơn, không còn bị đồng hóa theo tư tưởng Nho giáo Khổng Mạnh, mà triết lý cuộc đời của họ tóm gọn trong năm chữ Độc Lập – Tự Do – Dân Chủ – Hòa Bình – Bình Đẳng. Đó không phải là một điều tốt hay sao ?

Sự phát triển của phụ nữ và trẻ em là thước đo mức độ phát triển kinh tế, chính trị và nhân bản của xã hội. Xã hội phải tạo điều kiện cơ sở để giúp đỡ và bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Nhưng nói cho cùng, nếu mỗi người phụ nữ – khi có điều kiện và cơ hội – mà không ý thức được quan niệm trọng nam khinh nữ, thể hiện qua nhiều „ngóc ngách“ tư tưởng, bàng bạc trong nhiều cử chỉ, hành động, cách đối xử gọi là „nho nhỏ“… , không muốn học hành, mở rộng kiến thức, đi tìm và tiếp thu cái mới, cái hay của nhân loại… thì cũng không thể trách một chiều xã hội được.

Có quyền được đi học và mở mang trí tuệ thì phải cố gắng học!

2. Quyền bầu cử và ứng cử

Điều 21:

1. Tất cả mọi người đều có quyền tham dự vào trách nhiệm điều hành các công việc công cộng của đất nước họ, hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp qua sự lựa chọn tự do các người đại diện.

2. Tất cả mọi người đều có quyền tham dự, trong mọi điều kiện bình đẳng, vào các chức vị công quyền của nước họ.

3. Dân ý là nền tảng của quyền lực chính quyền, dân ý phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử trong sạch theo một định kỳ đều đặn, bầu cử phổ thông hợp pháp, bỏ phiếu kín, hay theo một thể thức tương đương bảo đảm quyền tự do bầu cử.

Một trong những thể hiện dân chủ thực sự là quyền ứng cử và bầu cử của phụ nữ trong một xã hội, một quốc gia. Trên thế giới, chỉ vào đầu thế kỷ hai mươi, cách thời đại của chúng ta khoảng 100 năm, quyền bầu cử của phụ nữ mới được thực hiện dần dà, ban đầu với nhiều giới hạn về tuổi tác, tình trạng gia đình (có chồng hay độc thân), có công ăn việc làm (đóng thuế), trình độ học vấn… trước khi phụ nữ có quyền ứng cử, bước vào chính trường, sớm nhất là ở Tân Tây Lan (Neuseeland) vào năm 1893 và mới gần đây ở nước Ả Rập Thống Nhất (Les Emirats arabe unis; EAU) vào ngày 16/12/2006.

Không ai có thể ngờ rằng, ngay tại Pháp, đất nước của Nhân quyền (droit de l‘homme) mà phụ nữ Pháp chỉ có quyền bầu cử và ứng cử nhờ quyết định của Đại tướng de Gaulle, khi ấy đứng đầu Chính phủ Lâm Thời, đóng ở hải ngoại, ký ngày 21 tháng 4 năm 1944 tại Alger, và phụ nữ Pháp đã đi bỏ phiếu đầu tiên trong cuộc bầu cử ngày 20 tháng 4 năm 1945. Trước đó, trong xã hội Pháp, người chồng là người có quyền „bảo hộ“ người vợ!

Tại Đức, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử vào ngày 19 tháng một 1919, sau khi Đệ nhất thế chiến chấm dứt ! Kết quả của sự tranh đấu từ năm 1891 của Đảng Xã Hội Đức (SPD). Trong cuộc bầu cử Quốc Hội Đức năm 1919, thành phần phụ nữ đắc cử là 8,7%, tức là có 37 dân biểu nữ được bầu (trong số này có 19 nữ dân biểu thuộc đảng Xã Hội).

Tại Việt Nam, mãi cho đến năm 1945 phụ nữ không có quyền tham dự vào „việc nước“, không có quyền công dân, không có quyền được tham gia vào lãnh vực chính trị, xã hội, dù rằng người phụ nữ Việt Nam luôn luôn gánh vác kinh tế gia đình, tức là gánh vác kinh tế xã hội. Người vợ, người mẹ nuôi chồng, nuôi con, nuôi cả gia đình chồng nhưng không có tiếng nói, địa vị trong xã hội.

Con không cha ăn cơm với cá

Con không mẹ liếm lá đầu đường

Trong 24 đạo dụ của vua Lê Thánh Tôn (1460-1497) có sáu đạo dụ trực tiếp hành xử lên người phụ nữ, qua đó cha mẹ và chồng có quyền trừng trị người phụ nữ:

  • Đàn bà có lỗi mà cha mẹ và chồng đã trừng trị thì nên phải sửa mình đổi lỗi, không được tự tiện trốn đi, làm hư mất nết đàn bà.
  • Làm đàn bà thì phải theo chồng, không được cậy cha mẹ mình phú quý mà khinh nhà chồng, nếu không như thế thì bắt tội đến cha mẹ.
  • Vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn, duy chỉ có khi nào người vợ phạm tội thất xuất thì mới được bỏ, chứ không được khiên ái, cẩu dung làm hại tới phong hóa.
  • Người đàn bà góa không được chứa những đứa trai trẻ trong nhà, nói dối là con nuôi để âm hành những việc gian dâm.
  • Người đàn bà góa chồng, đối với các con vợ lẽ, nàng hầu, nên có lòng thương xót, không được mưu mô để chiếm đoạt gia tài làm của riêng mình.
  • Đàn bà góa chồng, chưa có con cái, phải ở nhà chồng để giữ đủ tang lễ, không được chuyển vận của cải mang về nhà mình.

Xã hội phong kiến Nho giáo Việt Nam dựa trên căn bản năm hạng người: Sĩ, Nông, Công, Thương. Đứng đầu nấc thang xã hội là kẻ Sĩ, là các thầy đồ, thầy địa lý, thầy lang, thầy bói, quan lại triều đình, hương chức, hội đồng…toàn là đàn ông. Xếp hạng cuối cùng trong xã hội là các người làm nghề buôn bán mà đa số là phụ nữ.

Khôn ngoan cũng thể đàn bà,

Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông.

Nghề thì được trọng, nghề thì bị khinh rẻ. Một trong những biểu hiện thời ấy là những bậc đàn ông quý phái thượng lưu, được hầu hạ, suốt đời không cần phải lao động chân tay, để móng tay mọc không cắt, móng tay mọc dài đến cả một hai tấc, xoắn lại như vòng xoắn, thì được gọi là „móng tay lá lan“, câu tục ngữ „không làm việc gì động đến móng tay“ xuất phát từ đấy!

Trắng như bông lòng anh không chuộng,

Đen như cục than hầm làm ruộng anh thương.

Tuy nhiên, phải nhấn mạnh ở đây rằng, chữ « thương » thời ấy gắn liền với hai chữ « lao động » và « sản xuất »: cô bán vải vóc lụa là cũng là người chăn tằm dệt cửi, cô bán rau cũng là người trồng rau, cô bán gạo cũng là người trồng trọt cầy cấy thóc lúa, cô bán heo, gà, vịt cũng là những người chăn nuôi, cô bán bún cũng là người làm bún…. Thường thì gái quê gái làng bán các hàng hóa do chính họ sản xuất trong các phiên chợ làng, hàng tuần, hàng tháng.

Tờ mờ sáng người phụ nữ đã thức dậy, lục tục nấu cơm nước để sẵn cho chồng con ở nhà, gánh hàng đi bộ mỗi ngày, có khi đi bộ cả hai ba chục cây số lên, chợ tỉnh, chợ quận, chợ thành phố, rao bán, buổi trưa ăn vài vắt cơm nắm, rong rỏi trên chợ đến quá trưa tan chợ lại gánh gánh về, thêm một lần ba bốn tiếng đi bộ. Về đến nhà, đặt quang gánh xuống là lo nấu bữa cơm chiều và trăm công việc trong gia đình

Ở thành phố thì phụ nữ cũng gồng gánh trên đôi vai bán rong mọi thứ cần thiết cho đời sống trên khắp phố phường, từ gánh rau, gánh gạo, gánh khoai, gánh hoa, gánh hàng xén (bán kim chỉ khuy nút…), gánh phở, gánh bún, gánh giò chả….

Con ơi mẹ bảo con này,

Học buôn học bán cho tày người ta,

Con đừng học thói chua ngoa,

Họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười,

Dù no dù đói cho tươi,

Khoan ăn bớt ngủ liệu bài lo toan,

Phòng khi đóng góp việc làng,

Đồng tiền bát gạo lo toan cho chồng,

Trước là đắt nghĩa cùng chồng,

Sau là họ mạc cũng không chê cười,

Con ơi nhớ bấy nhiêu lời !

Nhưng nếu chàng đi buôn thì chàng ra điều kiện:

Nhà anh chỉ có một gian,

Nửa thì làm bếp nửa toan làm buồng,

Anh cậy em coi sóc trăm đường,

Để anh buôn bán chẩy trương thông hành,

Chút mẹ già trông lấy cho anh,

Để anh buôn bán thông hành đường xa,

Liệu mà thờ kính mẹ già,

Đừng nặng tiếng nhẹ người ta chê cười.

Nói theo định nghĩa kinh tế hiện đại thì phụ nữ thương nhân chỉ là hạng tiểu thương có địa bàn hoạt động nhỏ hẹp (như bà Tú Xương). Các sự việc thuần túy thương mại mua đi bán lại, mua rẻ bán đắt, có tầm mức địa lý rộng lớn hơn chưa phát triển lắm, nhưng cũng đã vượt quá tầm mức của phụ nữ làng trong lãnh vực giao dịch, mở rộng thị trường…. vì phụ nữ không biết đọc, biết viết.

„Việc nhà“ đã do cha và chồng quyết định, „Việc nước“ cũng do các Ông quyết định. Trải qua bao nhiêu thời gian, bao nhiêu lần sửa đổi tên và cách tổ chức, tất cả mọi chức vị cai trị và quản lý trong làng xã: xã quan, hội đồng kỳ mục, hội đồng hương chức, hội tề, hội đồng tộc biểu, hội đồng hương chính, hội đồng kỳ hào…đều chỉ dành riêng cho các ông, phụ nữ không được tham dự, không có tiếng nói.

Toàn Ánh viết trong cuốn „Làng xóm Việt Nam – Nếp cũ„ như sau:

„ Mãi cho đến tháng 8-1945, Việt Minh nắm chính quyền, việc tổ chức làng xã mới được sửa đổi lại….Việt Minh căn cứ vào bản Hiến Pháp năm 1946 của họ…Mỗi xã bất kể Trung, Nam, Bắc có hai cơ quan đại diện là Hội đồng nhân dân và Ủy Ban Hành chính…Với chế độ Việt Minh bao nhiêu cơ cấu của làng xã và bao nhiêu tập tục cổ truyền đều bị sụp đổ và tiêu hủy, kéo theo bao nhiêu là thuần phong mỹ tục. Những điều kiện ứng cử và bầu cử đều nhất loạt thay đổi. Bất cứ ai, 18 tuổi trở nên đều được ứng cử và bầu cử. „

Ý chính của Toàn Ánh là tiếc nuối tập tục cổ truyền và thuần phong mỹ tục xưa cũ, nhưng câu tiếp sau của chính ông đã phản ánh một sự thay đổi cuộc đời rất lớn cho phụ nữ: mãi đến năm 1945, với quyền bầu cử và ứng cử, người phụ nữ chính thức có tiếng nói và chỗ đứng trong xã hội. Đó là bước đầu trong việc thực hiện dân chủ.

Được xã hội và chính thể công nhận cho người phụ nữ có quyền ứng cử và bầu cử là biểu hiệu của một biến chuyển về hướng bình đẳng. Thực tế ra sao, khi người phụ nữ muốn thực hiện quyền lợi của mình, có dân chủ và bình đẳng thật sự hay không, đó lại là một vấn đề khác. Riêng tôi, khi thấy phụ nữ có khả năng kiến thức, có trình độ học vấn, mà xếp đó ngồi nhà, dù là làm một công việc có ích cho xã hội là hầu chồng hầu con, tôi vẫn lấy làm tiếc.

3. Quyền được tôn trọng nhân phẩm và thân thể

Điều 3:

Tất cả mọi cá nhân có quyền sống, quyền tự do và quyền thân thể

Điều 4:

Không ai bị cưỡng bách làm nô lệ hay người hầu kẻ hạ;

Nô lệ và sự buôn bán nô lệ bị cấm đoán dưới mọi hình thức.

Điều 5:

Không ai bị tra tấn, hình phạt hay đối xử dã man, vô nhân đạo hay nhục mạ.

Tôi xin ngắn gọn ở điểm này, vì không cứ gì ngày xưa dưới thời quân chủ phong kiến Nho giáo, phụ nữ phải chịu nhiều hình phạt thân thể, cạo đầu gọt gáy bôi vôi, đánh cho chết, dìm nước, thiêu đốt, bè chuối trôi sông…mỗi khi dám phản kháng lại các bất công trong đời mình, mà ngày nay, trong các xã hội gọi là cực độ tân tiến kỹ thuật cũng còn nhiều hành động không tôn trọng nhân phẩm và thân thể của phụ nữ.

Tình yêu thương vợ chồng và sự chung thủy gắn bó đều là một sự tự nguyện tự giác trên một căn bản tình cảm đồng điệu, chia xẻ, tôn trọng lẫn nhau. Không một người phụ nữ nào còn thương người đã đánh đập mình, nhục mạ mình. Có chăng, chỉ là một sự nhẫn nhục, hy sinh, vì con, vì gia đình, hay vì gì khác, chứ không phải vì bản thân mình.

Trên hai nước Đức và Pháp đều có hệ thống thông tin không tốn tiền để cho phụ nữ và trẻ em gọi cầu cứu cấp bách trong những trường hợp khẩn thiết, và những cơ quan xã hội, tôn giáo đều có những cơ sở đón tiếp người phụ nữ bị nạn. Nhưng, một điều hoàn toàn ngạc nhiên cho chính tôi, là các cơ sở ấy đều ngập ứ các yêu cầu giúp đỡ, đến nỗi họ chỉ có thể giúp những trường hợp nào nặng nhất. Tin tức ngày càng thường xuyên hơn trên báo chí về những người mẹ giết trẻ sơ sinh, cắt ra từng khúc bỏ tủ lạnh đá, hay dấu dưới chậu cây, giết con nhỏ…cho thấy rằng những người mẹ bất hạnh ấy bị xã hội ruồng rẫy, không giúp đỡ khi khó khăn.

Cũng xin miễn nơi đây nói đến sự bất hạnh nhục nhã của những người phụ nữ cam chịu bán thân dưới mọi hình thức, để nuôi toàn thể gia đình.

Ngày nào, phụ nữ còn chịu nhiều áp bức, thì ngày đó, phụ nữ cần phải học để mở mang trí tuệ, để tự thay đổi đời mình, cần phải có „đồng minh“ trên con đường thực hiện bình đẳng, cần phải có môi trường giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi. Một xã hội không có bình đẳng, đưa đẩy phụ nữ và trẻ em vào bước đường cùng, là xã hội đó chưa có dân chủ thực sự.

L’inégalité entre hommes et femmes dans les doctrines de Confucius

De nos jours, sur notre planète, les traitements d’inégalité des femmes, brutal ou subtil raffinement existent encore et encore. La femme, souvent, réduite dans sa fonction de reproduction et de travaux de ménage, voir plus, de machine gagne-pain, n’est pas toujours reconnue comme être humain, égale de l’homme.

Dans la société vietnamienne actuelle la position de la femme a très vite évoluée, rapide comme un tourbillon depuis le début du 20ème siècle. La société vietnamienne reconnaît la valeur de la femme: les femmes occupent des postes dans tous les étages de tous les domaines, certaines deviennent célèbres dans le monde scientifique, littéraire, artistique et politique, pas seulement au Viet Nam, mais dans plusieurs pays développés du monde. Les jeunes femmes des familles dignes de leur rang reçoivent un programme d’éducation de haut de gamme: les études universitaires, même en langues étrangères, les apprentissages pratiques: la cuisine, la couture, les beaux-arts, sans oublier les soins de beauté et les vertus d’une démarche silencieuse, d’une parole douce.

Jusque dans les années 50, un homme pouvait avoir officiellement jusqu’à quatre épouses, chacune devant s’occuper seule de ses enfants, par contre les femmes devaient rester fidèles. Cette tradition n’existe plus de nos jours, mais un divorce reste encore mal vu.

La famille compte beaucoup si bien qu’une femme qui ne peut avoir d’enfant est malheureuse aussi. Dans la période confucianiste elle aurait commis une «faute grave» et dans le temps moderne elle est considérée comme « inaccomplie ». À savoir qu’une famille vietnamienne, dans les années 50, a en moyenne quatre à six enfants, huit était une famille courante.

On n’a pas encore oublié la date historique de 1946, qui a vu l’obtention du droit de vote et de participation aux élections pour la femme vietnamienne. Et avant 1946? Les doctrines confucianistes pèsent lourdement sur le sort de la femme, quoi qu’il existait de temps en temps des réformes sous les règnes des rois généreux et progressistes.

Le confucianisme en pratique impose deux règlements principaux à suivre strictement pour maintenir l’ordre de la société – les hommes doivent respecter strictement la hiérarchie «le Roi, le Maître et le Père“ – et pour établir l’ordre dans la famille – les femmes doivent respecter strictement la hiérarchie «le Père, l’Époux et le Fils».

Toute sa vie, la femme n’a qu’à obéir et se sacrifier pour le bien-être de ses «hommes» et de leurs familles, après le mariage la sienne ne compte plus.

Jusqu’au début du XXème siècle la femme vietnamienne, à l’exception des femmes issues des familles de très haute position sociale, n’a pas le droit d’avoir une éducation, elle ne savait ni lire ni écrire.

Pourtant, le trésor des chants populaires traditionnels, chantés et développés par les femmes, prouve que les femmes apprenaient quand même par transmission orale et par mémoire. Ma mère, née en 1922, ne pouvait pas aller à l’école, elle a appris à lire et à écrire toute seule avec les filles de son âge.

Les peines de mort pour les hommes, prononcées par la cour du Roi, touchaient aussi leurs femmes innocentes: les hommes de trois générations dans la famille de l’accusé sont décapités, même les enfants et les bébés, tandis que les femmes de trois générations sont données comme esclaves.

Une simple «faux pas», une «faute» suffisaient pour des punitions corporelles et mentales très brutales, même la peine de mort, exercée par la famille de l’époux dans les cas de «femmes adultères». Les hommes ont le droit d’avoir plusieurs femmes et concubines, mais la femme doit être absolument fidèle a «son» homme, quel qu’il soit. L’époux et sa famille ont le droit de bannir, donner, vendre une de ses femmes, qui est accusée de ne pas avoir accomplit ses devoirs. Pour survivre, les femmes rejetées, qui avaient la chance de rester vivante, devaient partir très loin dans le pays. Pendant l’occupation française les femmes vietnamiennes, mariées avec un étranger, étaient considérées également comme des prostituées. Elles étaient méprisées.

La convention des droits de l’homme représente aussi pour les femmes de notre temps une base d’égalité sur le plan politique, mais la lutte contre les inégalités continue. Heureusement, les femmes d’aujourd’hui ont des moyens dont les femmes d’autrefois étaient privées: une éducation scientifique, une formation pratique, des moyens de déplacement, d’information et d’expression et les aides d’un entourage renforcé.

Bình phim „Emily ở Paris“ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2020

9. octobre 2020

Bình phim „Emily ở Paris“ – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2020

Dẫu biết rằng, càng có nhiều người viết về một đề tài thì lại làm cho nó nổi tiếng hơn, dù không được thuê bao để viết, đành làm một việc quảng cáo không công, không mất tiền cho một bộ phim Mỹ. Vì sao ? Vì nó ẩn chứa quá nhiều chuyện „cường điệu“ về Paris mà phải nói ra để không bị mù quáng bởi phim ảnh Âu Mỹ. Tôi xem bộ phim này qua sự giới thiệu của một người bạn. Nó đã được phụ đề Việt ngữ để cập nhật khán giả Việt. Báo chí Pháp cũng đã có nhiều bài bình luận.

Điều làm cho chồng tôi phải phì cười vì cách diễn tả „đàn ông Pháp“ ở Paris. Cách tán gái của đàn ông Pháp Parisien nổi tiếng trên thế giới, sang trọng như đi thuyền, uống sâm banh trên sông Seine, hay chỉ là món trứng rán ăn trong bếp… Họ có cách „tiếp cận“ nhau rất tự nhiên.

Người Pháp, đàn ông, đàn bà, già trẻ lớn bé, thường có lệ hôn nhau trên má hai cái, ba cái, hoặc bốn cái để chào hay tạm biệt nhau. Những cái hôn này được bày tỏ bằng nhiều cách: nhẹ nhàng, tôn trọng, xã giao hay thân mật, âu yếm, gần gũi…tùy theo cả hai phía đối tượng. Và ở thời buổi này, cần phải phân biệt cho rõ quan hệ tình dục và tình yêu chân chính.

Trong phim, cách diễn đạt làm nổi bật những quan hệ tình dục, ham muốn, thèm khát, tức khắc, một đêm, vài đêm, thay đổi người tình nhanh chóng và họ quen biết lẫn nhau, chấp nhận cuộc chơi…Những mẫu người đàn ông Pháp xuất hiện trong phim là những người đại diện cho những cuộc chơi, những phiêu lưu tình dục kiểu „libertin“ (tự do quá trớn).

Những chi tiết như làm tình ồn ào quá mức, đến hàng xóm phải bịt tai lại…là những chuyện thật xảy ra ở những chung cư tường mỏng, sàn trần mỏng có ở khắp mọi nơi, không chỉ ở Paris. Hào hoa, phong nhã, làm tình từ sáng đến tối không mệt mỏi, latin lover, tán tỉnh người nào vừa mới gặp, tán gẫu về tình dục trong phạm vi đồng nghiệp…ngay từ những quan hệ nghề nghiệp xếp với khách hàng, nhân viên với nhau, những quan hệ tình dục chồng chéo, người này là vợ hay chồng hay nhân tình lâu dài, một vài đêm…của người kia, có sự đồng ý hay không của người vợ…

Nếu sự thật nó là như thế ? Hay chỉ là sản phẩm của tưởng tượng ? Nếu đàn ông Pháp ở Paris sự thật là như thế ?

Hay một cuốn phim chỉ cần nữ diễn viên thật đẹp, ăn mặc cũng thật đẹp, tài tử nam đều bảnh trai, có thân hình của người mẫu là ăn khách, coi như là thành công, mà không cần đến chi nội dung của bộ phim chuyển tải ???

Diễn viên Pháp Lucas Bravo, bảnh trai, cao ráo, đóng vai đầu bếp trong một nhà hàng ở Paris, nhìn nhận trong một cuộc phỏng vấn của tờ ParisMatch đó là „Culture Parisien“ (văn hóa parisien) rằng „Personne n´appartient à personne“ (Không một ai thuộc về một ai cả), le monde est un grand magasin de „wonders“, pas ideal, mais proche de la réaltité (thế giới là một siêu thị với nhiều bất ngờ diệu kỳ, không lý tưởng, nhưng gần với thực tế.)

Tình dục và tiền là hai vũ khí mạnh nhất để đưa những người có chức có quyền vào cái bẫy giăng ra, và lạ thay, biết thế mà có những đấng nam nhi không cưỡng lại được và cũng không thấy mình bị bẫy.

Nhân vật chính trong phim, Emily, lấy cái bánh crêpe để nói lên cái ao ước một mối tình chung thủy duy nhất của mình: „em không phải là người có thể chia xẻ một cái bánh crêpe với ai, em muốn cả cái bánh…“

Ngay cả nhân vật Sylvie cũng ngậm ngùi, cay dắng khi được hỏi về hạnh phúc của mình và đã trả lời Emily bằng những câu hỏi lại: „Cô thật sự tin là mọi người có hạnh phúc ?..Cô tin vào một hồi kết thúc hạnh phúc ?“ , trong khi Sylvie khẳng định rằng đó chỉ là „một kết thúc của một phim dở ẹt“ .(Tập 7)

Đàn ông Pháp ở tỉnh, ở làng quê, trên khắp nước Pháp, có người này người kia nhưng …số đông là truyền thống hơn, chung thủy một chồng một vợ, quan hệ tình dục trong nghề nghiệp đối với họ là điều cấm kỵ nếu họ không muốn mất việc, bị chủ đuổi.

Và cũng cần phân biệt ở đây, những cái phong cách sống cường điệu Parisien rất khác với phong cách sống ở nước Pháp còn lại.

Đã từng ở Paris, nên tôi bật cười khi căn hộ thuê cho nhân vật chính cũng là một „chambre de bonne“. Căn hộ dùng để đóng phim đã được sửa chữa lại để có bề rộng 40 mét vuông và đầy đủ tiện nghi.

Ngày trước, chủ nhà ở bên dưới trong những căn hộ rộng 100 mét vuông đến hơn 300 mét vuông, người phục vụ ở tầng trên cùng, dưới nóc nhà, trong những căn phòng nhỏ hẹp, thấp, phòng tắm và nhà vệ sinh chung, từ 6 mét vuông cho đến 9, 14 mét vuông.

Hiện tại, những căn phòng „chambre de bonne“ này được sửa sang lại cho thuê với giá tương đối ở Paris khoảng trên dưới 1.000 euros tùy địa điểm và mức độ tiện nghi là chỗ ở rẻ nhất ở Paris, nhưng vì ở trên cao từ những căn hộ chambre de bonne có cái nhìn trên nóc nhà của những kho phố Paris và đường phố, đó là cộng điểm cho giá thuê nhà.

Cùng cộng điểm thêm với sự kiện tường mỏng, hiện tượng mất điện, đang tắm mất nước…, bà gác nhà chanh chua, đáo để, thùng rác bốc mùi ngay cửa ra vào, đạp phải cứt chó khi vừa ra khỏi nhà, nhiều đường phố đầy rác, những cầu thang máy nhỏ xíu vừa đủ cho hai người đứng sát vào nhau…đó là đời sống thực tế của đa số ở thủ đô Paris hào nhoáng.

Cơm áo gạo tiền cũng là những nổi khổ của dân ở khắp nơi, không cứ riêng gì ở Paris. Càng lên cao không khí càng mỏng dần, càng phải củng cố địa vị để kiếm ra tiền. Sự cạnh tranh được thể hiện rõ nét qua phim.

Vai Sylvie, sếp công ty dịch vụ thương mại Savoir, đã thể hiện được vai trò của mình, từng trải, sexy, lạnh lùng, khinh khỉnh, có những cú „đá giò lái“ cực hiểm, chỉ chạy theo đồng tiền, đúng y như mẫu phụ nữ trong nghề nghiệp mà người ta thường gặp. Hễ công việc chạy tốt, có nhiều khách là tất nhiên dịch vụ cao giá.

Đứng về mặt quản trị kinh tế, các nhà sản xuất, không có khâu „dịch vụ thương mại“ của mình, thường bắt buộc phải thuê công ty ngoài để quảng bá, thúc đẩy việc buôn bán của mình, tìm khách hàng mới, tìm thị trường mới. Điều này, trong kinh tế học, nói lên sự đề cao khâu thương mại so với các khâu khác như sản xuất, nhân sự, thâu mua, kế toán…vì sản phẩm tốt chưa hẳn đã có thành công trên thị trường và được ưa chuộng rộng rãi bởi khách hàng.

Cái thú vị của tôi khi xem bộ phim này, vì méo mó nghề nghiệp, chính là vì được xem thế nào là công việc trong ngành marketing, giống như ngành lobbying, một ngành mà phụ nữ chiếm đa số để tạo ảnh hưởng: giao tiếp, gặp gỡ, quan hệ, giao tiếp, gặp gỡ, quan hệ…là chính.

Emily, nhân vật chính đóng vai nhân viên đi săn khách hàng, không nói được tiếng Pháp dù cô cố gắng học, đến Paris mà chỉ nói tiếng Mỹ, thể hiện được vai trò của mình: ngây thơ, kiêu ngạo, muốn đem cái kiến thức thương mại lẫn phong cách sống của Mỹ ra để dậy khôn cho người Pháp ở Paris, muốn thế giới phải quay chung quanh mình, thể hiện tiếng Anh là ngôn ngữ hạng nhất trên thế giới, tiếng Pháp xuống vai trò thứ yếu, mình đồng da sắt trong nghề nghiệp, không một lời xúc phạm nào làm chạm đến cô, không một cử chỉ khinh miệt nào làm cô nổi nóng, giận dữ… , lạnh như tiền, một cô gái Mỹ có bản lĩnh trên sân chơi nghề nghiệp ở Paris và đã thành công.

Dụng cụ làm việc của cô ta là sự tươi trẻ, hồn nhiên, cái miệng nói huyên thiên, duyên dáng, cái máy điện thoại vừa là máy chụp ảnh chuyên nghiệp và cái laptop. Cô tận dụng khả năng của các mạng xã hội, được gọi là „người gây ảnh hưởng“ để quảng cáo cho chính mình dưới bảng hiệu „Emily in Paris“. Không có ít người „nghiện“ cái „like“ của mạng xã hội, càng nhiều người theo dõi thì càng nổi tiếng và càng có ảnh hưởng. Vậy mà cô bị gọi là „la plouc“ (Cái đồ nhà quê ngu ngốc) và cô ta đã bị nhuốm mầu Parisien lúc nào không hay: người Parisien là người nhiều mặt, không thật tình, che giấu, thích cường điệu hóa mọi chuyện, sống phô trương, hợm hĩnh, „không ai đến Paris để ngoan cả“, theo lời đầu bếp trong phim.

Ngay cả ngôn ngữ Pháp cũng là đề tài của phim, khiêu khích ngay với công kích „le vagin n´est pas masculin“ (âm hộ không thuộc phái nam) với ẩn ý trong hai đoạn đầu của phim. Hai phu nhân tổng thống Pháp, bà Brigitte Macron và bà Carla Bruni Sarkozy bị lạm dụng đưa lên phim một cách bất đắc dĩ, dù không có quan hệ gì với nhà sản xuất. Danh tiếng của hai bà phu nhân này trên thế giới đã làm cho bộ phim nổi như cồn ở Mỹ.

Trong phim cũng có những cú „đá hậu“ đến nước Đức, đến bà thủ tướng Angela Merkel, sự kiện một chàng thanh thiếu niên 17 tuổi lần đầu có quan hệ tình dục vởi một phụ nữ lớn tuổi hơn, du khách giầu có ở Thượng hải đem nhiều tiền đến nướng ở Paris, để thăm viếng một bạn cũ thuộc hàng siêu giầu đang „trốn“ cha mẹ ở Paris, vấn đề đuổi việc dễ dàng của những người không có giấy tờ sinh sống hợp lệ ở Pháp, „Les Chinoises sont méchants derrière ton dos mais les Francais sont méchants en face“ (Người Trung quốc thì hung dữ sau lưng nhưng người Pháp thì hung dữ ra mặt), những người buôn bán lẻ hách dịch, khó chịu ở Paris, cùng với nhiều „clichés“ (thành kiến có sẵn) về lối sống ở Paris như đi làm muộn 10 giờ, 11 giờ, hút thuốc lá liên tục….

Tất nhiên, một thủ đô Paris đẹp tuyệt vời như carte postale và rất sạch sẽ làm bối cảnh cho bộ phim, tung ra đúng vào thời điểm covid-19 mà du khách thế giới phần lớn đều bị ở nhà, đóng cửa nhà, đóng cửa biên giới, không cho xuất nhập. Khán giả được no con mắt, như được đi nghỉ hè với những cảnh quay ở tháp Eiffel, Cổng thành chiến thắng (Arc de Triomphe), Place de L´Estrapade, tiệm bánh mì Moderne, vườn Palais Royale, le Panthéon, cầu Alexandre III, cầu tình yêu (Pont des Arts), nhà hàng Le Grand Véfour, Hotel d´Evreux, Atelier des Lumières, la Maison Rose, Rue de l´Abreuvoir, Place Dalida, Café de Flore, kênh Saint-Martin, Opéra, Hotel Plaza Athenée, Château de Sonnay, La Monnaie de Paris…., những bữa ăn ấm cúng, vui vẻ trong những nhà hàng Pháp, cùng dạo chơi những vườn hoa công cộng, đi thuyền trên sông Seine…, những căn hộ Parisien tuyệt vời đáng giá mấy triệu euros….

Cả bộ phim Emily in Paris, 10 tập, mỗi tập ba mươi phút, được người Pháp đánh giá là chấp nhận được dù rằng nó chứa đựng từ đầu đến cuối nhiều thành kiến về tính chất thế nào là Pháp của người dân Pháp. Được quay từ tháng 8 năm 2019, chiếu từ tháng đầu 10 năm 2020 bộ phim chỉ được đánh giá là đạt được tầm mức trên trung bình, vì thế những cố gắng về marketing (thương mại) đang được đặt ra cho chính bộ phim. MTT

Cô có biết người Pháp làm gì khi mọi chuyện đều không tốt ? khi mà những quả bom dội như mưa xuống đầu nước Pháp những  năm 39-45 ? Cô có biết họ làm gì không ? Họ đi ẩn trốn ? Không, họ làm tình với nhau.

Place de L´Estrapade – Quận 5 Paris



La Maison Rose, Paris


EMILY IN PARIS (L to R) ASHLEY PARK as MINDY CHEN and LILY COLLINS as EMILY in episode 106 of EMILY IN PARIS. Cr. STEPHANIE BRANCHU/NETFLIX © 2020

 

 

 

Une lettre de la Première Dame de la République Française et la Poste -©Mathilde Tuyet Tran, France 2020

6. octobre 2020

J´ai l´honneur de recevoir une lettre écrite par Monsieur Pierre-Olivier COSTA, Directeur du cabinet de Madame Brigitte MACRON, au nom de la Première Dame de la République Française.

Cependant, cette lettre envoyée le 24 juillet 2020 de La Présidence de la République, a été retournée pour la raison „Défaut d´adressage“ (sans date de retour du bureau de Poste), et puis réexpédiée encore la deuxième fois par le même bureau le 01 octobre 2020 avec la même adresse exactement et finalement je l´ai trouvée dans ma boite aux lettre le matin du 06 octobre 2020.

Cette petite histoire prouve une chose: le harcèlement de la Poste à mon encontre, si ce n´est que le centre de tri, si la Poste de Ressons-sur-Matz, si le facteur du village. Mon village est si petit, ni commerce, ni école, une seule rue d´un bout à l´autre pour l´entrée et la sortie…avec environ 90 âmes habitant en permanence, je suis unique „étrangère“ dans le village, comment la Poste ne trouve pas où j´habite depuis plus de 20 ans toujours à la même adresse ?!

Sur la vignette de refuse de la distribution on peut lire „La Poste a tout mis en œuvre pour distribuer ce pli“, ce n´est pas vrai ! Au minimum le facteur connaît mon adresse, et alors ?

La Poste en France, contre son propre marketing, est le contraire de ce qu´on appelle „confiance“ !

Les courriers adressés à mon mari ont toujours été distribués, tant qu´ils ne portent pas mon nom de jeune fille, un nom étranger. Finalement depuis le mois de juin 2018 j´ai souvent perdu mes courriers adressés à mon nom et j´en perdrai encore. Pourquoi ?

Seul le vent connaît la réponse ?

Luật Pháp: chiếm nhà ở bất hợp pháp !

20. septembre 2020

Luật Pháp: chiếm nhà ở bất hợp pháp ! ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Một đạo luật đang gây thêm sóng gió trên đất Pháp trong mùa dịch covid mà chưa tìm được giải pháp cụ thể và có hiệu nghiệm cứu vãn cho nạn nhân, đó là trường hợp nhà ở bị chiếm bất hợp pháp khi chủ nhà vắng mặt.

Khi nhà ở bị chiếm bất hợp pháp, muốn thâu hồi lại căn nhà, thường thì nạn nhân – chủ nhân một căn nhà – mất từ một đến ba năm hơn và phải trải qua một giai đoạn đấu tranh pháp lý với quan tòa, luật sư, thừa phát lại, cảnh sát và luật sư…cực nhọc và rất tốn kém để đòi lại quyền lợi và sở hữu của mình, chứng minh với tất cả giấy tờ cần thiết từ giấy mua bán nhà đất, giấy công tơ điện, công tơ nước, giấy thuế nhà thuế đất, các hóa đơn sửa chữa nhà cửa… .

Nếu giấy tờ này lại nằm trong căn nhà bị chiếm thì sao ? Bởi vậy chủ nhà phải lo trước, phải cất giữ giấy tờ cần thiết ở một chỗ khác phòng khi bị thiệt hại về nhà cửa như thiên tai, cháy, bị chiếm đóng bất hợp pháp, trộm cướp…..

Tại sao lại có trường hợp như thế trong một nước như nước Pháp bảo vệ quyền tư hữu của dân chúng ?

Trở lại một chút về lịch sử của sự „chiếm đóng bất hợp pháp“ nhà cửa theo Wikipedia: Kể từ năm 1972, phía cực tả „theo Mao“ – les Secours rouge – phát động chiến dịch, phong trào chiếm đóng những căn nhà bỏ trống, những phân xưởng đã ngưng sản xuất… làm nơi trú ngụ cho những gia đình nghèo, có con nhỏ, hay dùng làm nơi ở tập thể.

Từ ngữ „squats“, „squatteurs“ (danh từ chung), „squatter“ (động từ) du nhập vào ngôn ngữ Pháp từ đó.

Người ta lên án những kẻ có nhiều căn hộ, nhiều nhà cho thuê, những người bỏ nhà trống, không ở, đồng thời tội nghiệp thương cảm cho những người không có nhà ở. Họ nâng cao mầu sắc chính trị của việc chiếm đóng nhà cửa, chính trị hóa và nghệ thuật hóa một phong trào chiếm đóng.

Những người chiếm đóng là những gia đình tỵ nạn mới đến, những đứa trẻ ở „lậu“, những người thất nghiệp, những người mẹ đơn thân, họa sĩ, nhạc sĩ có thu nhập thất thường, yếu kém, thành phần nghèo bị „lọt sổ“ trong xã hội vì không đáp ứng được những tiêu chuẩn đặt ra của người có nhà cho thuê…

Squatter là chiếm nhà người khác, chiếm đóng hay sử dụng những vật dụng tài sản trong nhà đó, không trả tiền thuê nhà, tự do muốn trang trí, sửa chữa mà không cần phải hỏi ai, người chiếm đóng như là người chủ.

Squatter là một „cuộc chiến“ hàng ngày không súng đạn, đối lập với thành phần trưởng giả và hệ thống tư bản, để đạt được sự tự lập, cho không, tái thiết, đối lập với tất cả mọi thứ…. Họ chiếm đóng những tài sản quốc gia, hay của những chủ nhân lớn, của nhà thờ, của công ty xe lửa…

Một số nghệ sĩ, văn sĩ, nhạc sĩ chiếm đóng những cơ sở bỏ trống tại Paris và một số thành phố lớn như Marseille, Lyon …để ở, làm nơi hoạt động nghệ thuật, tổ chức những hoạt động triển lãm, văn nghệ, sự kiện….Những nghệ sĩ chiếm đóng lâu dài đã tạo dựng được một phân khúc văn hóa nhất định gây tiếng vang và tạo sức ép đối với chính quyền để tài trợ, ủng hộ họ. Có những squats trở nên nổi tiếng. Chủ nhà, chủ cơ sở phải thương lượng với người chiếm đóng để họ trả tiền nhà.

Một căn nhà ở Normandie bị chiếm đóng bất hợp pháp. Báo l´Edition du soir, Normandie

Trong những năm 80, 90 những căn nhà vắng chủ phải xây tường bịt kín cửa sổ và lối ra vào.

Những công ty, cá nhân có nhiều nhà cho thuê thường lựa chọn người thuê một cách gắt gao để bảo đảm quyền lợi của họ, có đi thuê nhà mới thấu hiểu được hoàn cảnh của những người phải ở thuê.

Chủ nhà cho thuê đòi hỏi những điều kiện thu nhập, điều kiện phải có người bảo lãnh, giấy thuế của người bảo lãnh, cách chuyển tiền của người bảo lãnh cho người thuê nhà, soi mói đời tư, cách sống của người thuê nhà….Nhiều nhà cho thuê, nhắm vào tầng lớp có thu nhập cao, bảo đảm, loại trừ hẳn những thành phần nghèo, thất nghiệp. Người nộp đơn xin thuê nhà thường phải chờ đợi một thời gian dài. Trần ai khổ ải mới thuê được một chỗ ở, mừng còn hơn là trúng số vì mọi chuyện hành chánh khác đều phụ thuộc vào địa chỉ chỗ ở.

Thống kê của INSEE năm 2018 cho biết tại Pháp có 58% người có tài sản nhà ở, tức là họ là chính chủ căn nhà mình ở, và khoảng 40% người ở nhà thuê, trong số này có 17% thuê nhà của chính quyền và 23% thuê nhà của tư nhân.

Kể từ 2015 những cuộc chiếm nhà bất hợp pháp tái phát mạnh mẽ, người chiếm nhà chiếm hẳn những căn nhà của cá nhân, tư nhân, không bị bỏ hoang, chủ nhà đang ở, bằng cách thay ổ khóa cửa nhà, họ biết rất rõ, lợi dụng chỗ hở của luật pháp hiện hành, lúng túng kéo dài thời gian đến những hai, ba năm, cho họ có quyền chiếm đóng tài sản của người khác trong thời gian ấy.

Chủ nhà, không đòi được nhà, phải đi ở khách sạn, ngủ ngoài xe hơi…, tài sản của họ trong nhà bị lạm dụng, mất mát, nhà cửa bị phá nát, thậm chí cả cái bồn cầu, ống nước… cũng bị gỡ đi, xuống cấp, thiệt hại nặng nề. Những căn nhà của gia đình cha mẹ đã qua đời còn trong giai đoạn phân chia tài sản giữa con cái, mà không có người ở, cũng bị người đến chiếm đóng. Có người, đi nghỉ hè, thấy chỗ ở thứ hai của mình bị chiếm đóng bởi người lạ. Thậm chí, một số luật sư, thừa phát lại, chưởng khế….lập công ty để mua lại rẻ nhưng căn nhà bị chiếm đóng.

Sự kiện làm nóng lên một tình trạng chiếm đóng nhà một cách bất hợp pháp xảy ra mới đây ở Théoule-sur-Mer thuộc vùng Alpes-Maritime. Vợ chồng ông Henri Kaloustian, hưu trí ở Lyon, trước kia ông Kaloustian là thợ máy, dành dụm mua được một căn nhà thứ hai để hưởng hưu của mình ở Théoule-sur-Mer, ông bà không phải thuộc thành phần „trưởng giả“ trong xã hội.

Năm nay, khi ông bà Kaloustian về nhà của mình để nghỉ mùa hè, thì thấy ngôi nhà đã bị người lạ chiếm đóng từ giữa tháng tám 2020 bởi một cặp vợ chồng có hai con nhỏ, họ đã thay khóa cửa nhà.

Vợ chồng ông Kaloustian phải ngủ đêm trong xe hơi rồi quay trở về Lyon. Thật là may mắn cho ông bà Kaloustian, người chồng đó lại bị cảnh sát bắt tạm giam vì vợ ông ta gọi cảnh sát đến nhà, tố giác về tội bạo hành vợ chồng và nhở cảnh sát can thiệp mang đồ đạc, hành lý của mình ra khỏi ngôi nhà mình chiếm đóng, rồi người vợ đã đem hai đứa con ra khỏi nhà, lên xe hơi của mình đi mất, trong khi người chồng bị cảnh sát còng tay đem về trụ sở. Một người bạn của cặp vợ chồng này cùng chiếm đóng trong nhà, thấy tình hình căng thẳng, truyền hình, cảnh sát túc trực, cuối cùng cũng đồng ý tự ý rời khỏi ngôi nhà. Được sự ủng hộ của báo chí, truyền hình và mạng xã hội, trường hợp chiếm nhà của ông Kaloustian khơi dậy sự chú ý của cả nước Pháp. Ngày 11.09.2020 ông bà Kaloustian lấy lại sở hữu của mình và bắt đầu dọn dẹp lại ngôi nhà của mình. Đây là một trường hợp ngoại lệ, có một không hai.

Những người bênh vực cho rằng cả hai bên, người chiếm đóng và người bị chiếm nhà đều là nạn nhân của chính sách nhà ở, thiếu thốn nhà ở cho nên người ta phải chiếm đóng nhà người khác, và đổ lỗi cho cấp quận trưởng của hạt hành chánh và tòa án không làm tròn phận sự của mình. Thời gian để lấy lại căn nhà là nơi trú ngụ chính thức của mình kéo dài quá lâu, từ một năm đến ba năm hơn.

Hiện nay, tòa án ở Pháp phân biệt nhà ở chính (domicile principal) và nhà ở thứ hai (résidence secondaire), cho những trường hợp tư nhân, cá nhân bị chiếm nhà. Luật lệ được áp dụng hiện hành vẫn là luật cũ từ những năm 80, 90 tuy gần đây có thay đổi đôi chút.

Người bị chiếm đóng nhà cửa phải làm đơn thưa ra cảnh sát, và đơn thưa lên quận trưởng của hạt hành chánh cấp tốc trong vòng 48 tiếng đồng hồ, và đơn thưa lên tòa án tiếp tục nếu ở hạt không giải quyết.

Theo luật hình sự hiện hành, người chiếm đóng nhà, nếu chứng minh được họ vào nhà một cách bất hợp pháp như bẻ khóa nhà, phá cửa sổ, thay đổi khóa cửa nhà…, thì họ chỉ bị phạt tù 1 năm và 15.000 euros, trái lại, nếu chủ nhà dùng những biện pháp hăm dọa, đuổi người chiếm đóng ra khỏi nhà mình mà không thông qua luật pháp thì sẽ bị phạt nặng hơn đến 3 năm tù và 30.000 euros tiền phạt.

Sở dĩ có tình trạng luật lệ như thế, vì đứng về phía luật dân sự, tòa án vẫn coi trọng „quyền có nhà ở“ (droits de logement) hơn là „quyền sở hữu nhà đất“ (droits de propriété) ! Lại còn thêm luật lệ không được đuổi nhà trong mùa đông, cũng gây khó khăn thêm và kéo dài thời gian chiếm đóng thêm.

Những điều này, đứng về mặt nhân bản thì cũng gây tranh cãi, khi chủ nhà chỉ có mỗi một cái nhà để ở ?!

Trên nguyên tắc, quận trưởng một hạt hành chánh có nhiệm vụ giải quyết các việc chiếm đóng nhà cửa, nhưng thường ngại những việc đuổi nhà mà có trẻ nhỏ, lại đùn đẩy cho tòa án phải đưa ra quyết định rồi mới thi hành.

Luật pháp không công bằng thì người dân có khuynh hướng „tự làm luật“ và tự đưa mình vào con đường „vi phạm“ luật pháp khác nữa, như một vài trường hợp đã xẩy ra.

Ngày thứ năm 17.09.2020 tờ báo có uy tín nhất ở Pháp Le Figaro đặt câu hỏi « Có phải có luật lệ cứng rắn hơn để chống lại những người chiếm đóng nhà cửa ?  » thì 98% trả lời rằng có trong số 168.518 độc giả trả lời online.

Vấn đề đọng lại là phải bổ xung, sửa lại luật lệ cũ đã không còn hợp với tình hình hiện tại, tìm được sự công bằng cho cả đôi bên.

Nhưng vấn đề làm lại luật mới, hay sửa luật cũng cần một thời gian rất lâu. Hiện thời, các chủ nhà vẫn phải lo liệu, đề phòng những nguy biến có thể xẩy ra, và điều này tạo nên thêm một hiện tượng tâm lý bất an trong dân chúng mà trách nhiệm nằm về phía chính quyền.MTT

Tin buồn

17. septembre 2020

Tin buồn

Bà quả phụ Trần Trọng Tân

Nhũ danh Nguyễn Thị Chức

đã về cõi vĩnh hằng ngày 16.09.2020

nhằm ngày 29.07 âm lịch năm Canh Tý

tại thành phố Hồ Chí Minh – Việt Nam

hưởng thọ 90 tuổi (1931-2020)

Tuyết Trần và Pierre Deschamps thành kính phân ưu cùng anh Trần Trọng Dũng và chị, các cháu cùng toàn thể tang quyến.

Xin đốt nén hương nơi từ xa xăm gửi theo mây bay về tận quê nhà

cầu chúc anh linh Cụ Bà tiêu diêu vĩnh cửu.

Thị trường tiêu thụ mùa covid-19 năm 2020

10. septembre 2020

Thị trường tiêu thụ mùa covid-19 năm 2020 – ©Mathilde Tuyet Tran, France 2020

Học thuyết trong kinh tế rằng những tiêu thụ của thành phần giầu sẽ nhỏ giọt, thấm ơn mưa móc, bù đắp được lỗ hổng do thành phần nghèo và trung lưu của xã hội gây ra và vực lại được một nền kinh tế bấp bênh một lần nữa đã được thực tế chứng minh là một học thuyết chỉ có giá trị tương đối, đôi khi sai lầm hoàn toàn, như trong giai đoạn covid-19.

Một thí nghiệm rõ rệt vô hình chung đã xảy ra trong cuộc cách ly toàn thể xã hội tại Pháp từ ngày 17.03.2020 đến ngày 11.05.2020, tổng cộng là tám tuần lễ, mới chấm dứt lệnh phong tỏa xã hội đợt I.

Trong khoảng thời gian hai tháng trời như dài đằng đẵng này, khi mọi người coi như bị giam lỏng trong bốn vách tường của mình, muốn đi đâu phải có giấy phép đặc biệt, số lượng 100.000 cảnh sát khám giấy tờ ở mọi ngã tư, ngã ba….từ nhà quê vắng vẻ cho đến thành thị, đã gây ấn tượng mạnh, khó quên trong dân chúng. Những người chưa biết thế nào là xa cách, thế nào là bất lực trước công quyền thì nay đã được nếm mùi.

Thời gian như đứng lại. Phố xá đìu hiu không một bóng người. Đường xá vắng hẳn xe cộ, vắng tanh vắng ngắt. Những người vô gia cư không biết đi đâu, về đâu, chỗ nào xin ăn.

Chỉ cho phép ra đường đi chợ gần nhất để mua thực phẩm, đi bác sĩ, đi nhà thương thì phải có giấy tờ chứng minh, nếu không thì bị phạt. Hàng vạn hoàn cảnh gọi là „đặc biệt“ xảy ra, cha mẹ già ốm đau con cái không được đến săn sóc, vợ chồng xa cách không được về với nhau, những sự săn sóc người có bệnh kinh niên bỗng dừng lại, trẻ con không được ra đường, đến trường……, gây sợ hãi, bấn loạn, khủng hoảng tinh thần.

Mọi người ngồi trong nhà, đóng kín cửa, dán mắt lên màn hình ti vi, ngó chăm chăm về Paris….vì không biết nhìn đâu. Ở Paris chỉ có người giầu mới sống được, họ vẫn túa ra đường chạy bộ, dắt chó đi dạo loanh quanh các khu phố…

Từ 11.05.2020 trở đi người dân được phép di chuyển trong vòng bán kính 100 km chỗ ở của mình, gọi là „espace vitale“ (địa bàn sinh sống) tối thiểu của dân chúng. Ngày 02.06.2020 mới hết lệnh cấm „100 km“, ngày 15.06 giải tỏa các biên giới nội địa châu Âu. Cho đến hôm nay, giữa tháng chín, các biên giới quốc tế vẫn chưa được giải tỏa, giao thông chưa trở lại bình thường.

Nhắc lại tình trạng trên để có thể hiểu được sự thay đổi trong cách tiêu thụ của dân chúng.

Hình như những người có trách nhiệm quên đi bộ môn tâm lý học trong những quyết định của họ. Con thú khi bị nạn, phản xạ của nó là chạy trốn, co cụm lại, thì con người cũng thế.

Co cụm kinh tế có nghĩa là thắt hầu bao, giảm thiểu tiêu xài đến mức tối đa, để dành khi có biến loạn xảy ra thêm nữa. Sự việc „bùng nổ kinh tế“ sau cách ly xã hội đã không xảy ra toàn diện. Vẫn là những người dân Paris giầu có đi chơi hè, nghỉ hè…làm kẹt xe trên các nẻo đường đi và về Paris trong mùa hè 2020. Sức tiêu thụ của họ, dù cho có phóng khoáng hơn mọi khi, cũng không đủ làm cho kinh tế sống lại như trước.

Sự việc chỉ cho phép người dân đi chợ mua thực phẩm ở nơi gần nhất và chỉ được một người đi, tạo ra hiện tượng „À, ra thế !“ . Thực phẩm thiếu thốn, chất lượng dở, giá mắc….nhưng vẫn phải mua, không được đi chỗ khác, chỗ quen biết, chỗ lui tới thường xuyên vì một lý do nào đó.

Sự việc ấn định phạm vi địa bàn sinh sống (espace vitale) trong vòng 100 km càng làm cho người dân ngạc nhiên „ À, ra thế !“ , người ta bắt đầu nhìn, ngắm chỗ ở của mình với một con mắt khác, gây thêm sợ hãi, nếu có việc gì xảy ra thì mình không đi ra khỏi phạm vi này được.

Sự việc phải đeo khẩu trang nới rộng trên đường phố trong một số thành phố lớn và Paris, ngoài những cơ sở công cộng khép kín như chợ búa, nhà thương, trường học, cửa hàng, tiệm ăn….càng làm cho người dân co cụm.

Trước kia vô tư, đi đó đi đây, thì nay nhiều người co cẳng nằm nhà để tránh bị ăn đòn, bị đánh đập, bị phạt vạ, bị mắng chửi chỉ vì một cái khẩu trang đeo không đúng cách « À, ra thế ». Trên nguyên tắc, khẩu trang dùng để bảo vệ sức khỏe trước nhất cho mình, và cho người, nhưng cái khẩu trang bị biến thành một áp lực xã hội bắt buộc, là nguyên nhân của những sự việc « thượng cẳng chân, hạ cẳng tay » đáng tiếc.

Cách ly, cách ngăn, ngăn cấm di chuyển…là những hậu quả của…chiến tranh, một trong những quyền tự do căn bản tối thiểu của con người là quyền tự do di chuyến để sinh sống, để lánh nạn. Thế mà lại bị tước đi một cách bất ngờ, không báo trước rộng rãi và không biết khi nào chấm dứt, có thể tuần này, có thể tháng sau…sau nữa.

Vì thế, chỉ còn có cái ăn, ngoài cái ở và bình diện sức khỏe, là người ta phải tiêu tiền. Thậm chí có người bắt đầu trồng trọt cà chua, cà rốt, hành, tỏi…..các thứ rau cỏ trên một mảnh đất nhỏ xíu, trước kia không thèm ngó đến để cho cỏ dại mọc.

Thói quen tiêu thụ thay đổi với 3 yếu tố hàng đầu là giá cả, chất lượng và nguồn gốc sản phẩm: người ta bắt đầu ý thức được cái gì là dư thừa, không cần thiết, cái gì cần thiết, ít đi chợ siêu thị hơn, thích tự nấu ăn, tự làm bánh hơn là mua các thực phẩm ăn sẵn, chứa thực phẩm ở nhà nhiều hơn, đi chợ phiên nhiều hơn, dù đắt hơn nhưng ưu tiên tiêu thụ những sản phẩm Pháp, sản phẩm địa phương, thích mua hàng Second-Hand hơn (mua đồ cũ)…

Người ta học được những thứ phải luôn luôn có sẵn trong nhà: găng tay, chất sát trùng rửa tay, khẩu trang, túi rác, các chất sát trùng lau chùi…

Không còn những người thích dạo chơi và tiêu tiền ở các trung tâm thương mại vĩ đại, hoành tráng và đông người nữa. Sự ham muốn „có để mà có“ đang dần dần giảm xuống trong thái độ của người tiêu thụ.

Những tin tức, tin thật và tin giả, phát tán trên mạng càng gây ra tâm lý hoang mang, sợ hãi, ru ngủ cho một tương lai gần, nuôi dưỡng một sự co cụm lâu dài.

Nhiều người, vì cùng quẫn suốt ngày ở nhà buồn chán nảy sinh ra mua hàng trên mạng. Bỗng dưng, các trang mạng bán lẻ nở rộ, nở hoa thu được nhiều lợi nhuận, vì người mua phải trả tiền trước qua mạng rồi mới được giao hàng sau. Nhưng việc bán lẻ qua mạng bị kìm hãm vì ba lý do: giao hàng chậm trễ, mất mát, hàng hóa không đúng chất lượng, yêu cầu và người mua bị ăn cắp dữ liệu thẻ ngân hàng, mất tiền mà không được gì.

Một cuộc thăm dò cho biết nếu một lệnh cách ly xã hội mới xảy ra thì 64% các cửa hàng bán lẻ „gần người tiêu thụ“ vì thiếu vốn sẽ không trụ được.

Sự hinh thành một hệ thống tiêu thụ mới như „drive“ (mua hàng đặt trên mạng, khách chỉ đến lấy) hoặc giao hàng tận nhà, tiêu thụ tại chỗ, tránh mua hàng hóa phải di chuyển vòng quanh thế giới… làm chuyển động các nhà bán lẻ với những trung tâm thương mại cố định hyper-marchés, super-marchés, mà người mua phải đến tận nơi mua sắm, thường nằm ở xa thành phố, trong những khu vực thương mại riêng rẽ.

Tổ chức „e-commerce và bán buôn đường dài“ (vente à distance) đã đạt được một con số doanh thu đáng kể là 100 tỷ euros và có 40 triệu khách hàng tại Pháp, như trường hợp Amazon có doanh thu tăng 26% đạt 75,5 tỷ dollars (64 tỷ euros) trong mùa covid.

Trong khi các mảng thị trường khác đều bị thiệt hại, như thị trường xe hơi bớt đến 6.000 euros cho một chiếc xe mới, thì chỉ có thị trường bất động sản là được mùa hậu covid. Khách hàng mua nhà là dân giàu có parisien, khi trước chỉ tiêu của họ là Paris nội thành, lấy đường xa lộ vòng quanh Paris làm ranh giới, thì bây giờ họ sẵn sàng mua nhà ở ngoài vòng để có đất, có vườn, có sân, có ban công…làm cho giá nhà đất ở những vùng bọc quanh Paris tăng đến 8%.

Pháp đang tìm cách „giải thoát“ 85 tỷ euros tiền để dành trong các ngân hàng của dân chúng để đổ vào vòng quay kinh tế. Một biện pháp mới là cha mẹ được cho con cái 100.000 euros miễn thuế để xây nhà, sửa nhà hay mở hãng xưởng.

Những mảng thị trường của CAC 40

Tổ chức CAC 40 là tổng hợp của 40 hãng xưởng hàng đầu của nước Pháp, có tổng số vốn khoảng 697,2 tỷ euros, báo tin thất bại trong các ngành xe hơi, du lịch….trong năm 2020, những „triệu chứng“ làm nhớ đến năm 1929, giai đoạn nung nấu đưa đến đại chiến thứ hai.

Ngày 08.09.2020 tờ Le Figaro loan tin trong tam cá nguyệt II vừa qua, thị trường lao động của Pháp đã mất đi thêm hơn 215.000 việc làm, cộng với con số gần 500.000 công ăn việc làm bị biến mất đi trong tam cá nguyệt I. Tổ chức quản trị bảo hiểm thất nghiệp Unedic phỏng đoán sẽ có 900.000 công ăn việc làm bị tiêu hủy trong năm 2020 tại Pháp.

Đọng lại một câu hỏi, tại sao một quốc gia tự dưng tự nguyện phá vỡ nền kinh tế của mình như thế ?

Tình hình dân chúng Pháp như chia hai, bên này thì sợ hãi, lo lắng, bên kia thì chống lại việc bắt buộc phải đeo khẩu trang. Cả hai bên đều không/ít tiêu thụ vì lo sợ và bực tức.

Trên báo chí Pháp và trên nhật báo Le Parisien ngày 11.09.2020 xuất hiện một lá thư ngỏ của 35 nhà nghiên cứu, vi trùng học, giáo sư, bác sĩ…trong giới y khoa kêu gọi chính quyền phải thay đổi thái độ gây lo sợ trong dân chúng, thí dụ như bằng những con số thống kê không nói lên được điều gì, không thống nhất, bằng biện pháp bắt buộc phải đeo khẩu trang trên đường phố, không có minh chứng khoa học…Cùng ngày 200 bác sĩ ký một lá thư ngỏ yêu cầu „Hội đồng Cố vấn Y khoa“ (Conseil de l’Ordre) hãy „để yên“ cho giáo sư bác sĩ Raoult Didier, người đã gánh chịu nhiều tai tiếng khi ông đơn thân độc mã bảo vệ cho phương cách điều trị chống covid-19 của mình, đi khác con đường của những người thuộc nhóm lợi ích….

Như để trả lời, ngày 11.09.2020 nhân lúc phải quyết định các biện pháp chống nạn covid-19 đang trở lại, ông Jean Castex, thủ tướng mới, thay thế ông Edouard Philippe, tuyên bố không ban hành cách ly xã hội toàn diện, cũng như không khoanh vùng cách ly, mà „Chúng ta phải sống chung với con vi khuẩn (lũ), không phải bước vào một lần nữa trong cái lý luận cách ly toàn diện. Chiến lược của chúng tôi không thay đổi. Chống lại con vi trùng đồng thời tránh phải đặt đời sống xã hội, văn hóa, kinh tế, giáo dục con em chúng ta và khả năng sống bình thường của chúng ta trong dấu ngoặc.“. Castex kêu gọi sự tự giác, ý thức của mọi người, đặc biệt là của người già, có bệnh tật. Biện pháp mới của thủ tướng Pháp là đặt 42 hạt vào mức cảnh giác „Đỏ“, cách ly 7 ngày cho người dương tính covid, thâu nhận thêm 2.000 nhân viên xét nghiệm và giao nhiệm vụ cho cấp bực quận trưởng (préfet) cùng với những người có trách nhiệm trong y tế công cộng đối phó phù hợp với mức độ của tình hình từng hạt mà không phải phụ thuộc vào quyết định từ Paris. MTT

Lourdes mùa thu

23. août 2020

Lourdes mùa thu – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Những hình ảnh núi rừng của rặng Pyrénée đang chuyển sang thu thật là đẹp và yên bình. Lourdes nằm gọn trong một thung lũng cũng hưởng được khung cảnh thiên nhiên thơ mộng đó, những mầu sắc mùa thu vàng, đỏ, nâu, xanh lá úa bao bọc lấy Lourdes.

Ở làng tôi đã yên, đến Lourdes cũng yên nốt, một sự yên tĩnh, lặng thinh cần thiết cho tâm hồn đã mang nhiều sôi động. Lourdes ở xa tít mù vì thế mới gọi là đi hành hương, lặn lội đường xa cả ngàn cây số để đến Lourdes theo tiếng gọi của Đức Mẹ. Về Lourdes mấy ngày, tôi có cảm giác nhẹ tâng, bao nhiêu buồn phiền xa vời vợi, không nghĩ gì nữa cả, chỉ thưởng thức phong cảnh và hưởng bầu không khí mát rượi trong lành.

Du lịch vùng núi khác với du lịch vùng biển, náo động, ăn chơi ướt át. Những người đã có kinh nghiệm đi dạo đường dài với ba lô và túi ngủ thích đi đoạn đường GR10 (grande randonnée số 10) rất nổi tiếng xuyên rặng Pyrénée từ biển Đại tây dương ở thành phố Hendaye qua đến biển Địa Trung Hải ở thành phố Banyuls sur Mer, nằm sát biên giới với Tây Ban Nha.

Đoạn đường này rất dài, 922 cây số, tính trung bình theo thời gian là 55 ngày và 355 tiếng đi bộ đường núi, lên đèo xuống đèo của nhiều ngọn núi trùng trùng điệp điệp, ngọn cao nhất 2.735 mét mang tên Hourquette d’Ossoue. Nhiều người chỉ đi một đoạn ngắn cũng đủ, thấy nhiều cảnh đẹp, hoặc đi tắt từ Lourdes băng ngang qua rặng Pyrénée trên phần đất của Pháp. Mùa đông tuyết phủ đầy núi, không phải là không có hiểm nguy. Đẹp và nổi tiếng nhất có lẽ là Thung lũng Gavarnie, có thác nước Gavarnie cao 422 mét, nước rơi xuống như một sợi chỉ trắng, nhìn từ xa.

Đến với núi là nghe tiếng thì thầm của cây cỏ, nghe tiếng gió hoặc nhẹ nhàng như hơi thở, hoặc phần phật giận dữ buốt da, nghe tiếng mưa rơi nặng trĩu, nghe tiếng những con suối đầu nguồn róc rách ào ào đều đều, nghe tiếng hồ trên núi phẳng lặng gió la đà mặt nước, nghe tiếng lá xào xạc xào xạc đong đưa, nghe chính từng bước chân mình trên đường mòn…

Nhịp sống ở Lourdes chậm hơn, bình thản hơn. Ở đây, người dân đã quen phục vụ khách du lịch đến tận hang cùng ngõ hẻm này, nếu không có Đức Mẹ hiện ra. Câu chuyện thánh Bernadette vì thế có tính chất chân thật, không phải như chiêu trò dụ khách của thời đại bây giờ.

Lourdes cũng như các địa điểm du lịch nổi tiếng khác của Pháp trong mùa covid-19 bị thiệt hại nặng nề. Con số du khách đến Lourdes hàng năm có khoảng từ 6 đến 7 triệu người, trung bình là 3 triệu người, trong số này có đến 51% du khách được tổ chức (khách đoàn). Con số lao động dịch vụ cho du khách lên đến 3.900 công việc. Lourdes đứng thứ 10 trên thế giới sau những thủ đô của các nước như Amsterdam, Londres, Berlin, Florence, Venise…. Lourdes có hơn 12.000 phòng và 22.000 giường của 144 khách sạn, trong khi dân số của Lourdes chỉ có khoảng 14.361 dân, đứng thứ ba ở Pháp, sau Paris và Nice.

Báo La Nouvelle République des Pyrénée ngày 07.07.2020

Năm 2019 được vinh danh là năm của thánh Bernadette, thành phố Lourdes phấn khởi về số lượng khách đến thăm. Hai tháng đông nhất trong năm đáng lẽ là tháng bẩy và tháng tám, nhưng năm nay đa số khách sạn lớn đóng cửa, 2/3 các cửa hiệu bán lưu niệm đóng cửa, phố xá mọi năm đông chật người thì năm nay vắng tanh vắng ngắt. Khách đến Lourdes đông vừa đủ vỏn vẹn một nhà thờ. Làm sao để đưa du khách trở lại, câu hỏi này đang làm đau đầu những người có trách nhiệm.

Mùa covid-19 năm nay có nhiều áp đặt về y tế như khoảng cách xã hội, đeo khẩu trang, rửa tay bằng dung dịch sát khuẩn…, chỉ nội vấn đề đeo khẩu trang đã gây tranh cãi xã hội gay gắt, khi mỗi người đều tự cho mình cái quyền của cánh sát „nhắc nhở“ người khác phải đeo khẩu trang, những người chống đối lại việc đeo khẩu trang nêu nhiều lý do kinh tế, chính trị khiến cho họ bất mãn, đến cả những xung đột tay chân gây thương tích đã xảy ra.

Những ai du lịch bằng phương tiện chuyên chở công cộng như máy bay, xe lửa…lại còn phải xuất trình giấy tờ kiểm dịch phải làm trước đó nữa, rồi lại phải thực hiện cách ly nhiều ngày ở nơi đến, nơi đi, trong khi các tiện nghi khác bị giảm thiểu. Có việc gì cần thiết lắm, bắt buộc phải đi thì người ta mới lên đường.

Đó là lý do chính yếu khiến cho mọi cuộc du lịch thư giãn, vui chơi đối với nhiều người, những gia đình không có trẻ con, trở nên vô nghĩa, họ không đi du lịch nữa. Ở nhà, ăn ngon ngủ yên không phải đeo khẩu trang vẫn thoải mái hơn là chịu đựng những áp đặt nóng của xã hội, lại tốn nhiều tiền vô ích, vì đi đâu, nhiều nơi lại còn áp đặt thêm trong mọi dịch vụ „phụ phí covid“ để moi thêm tiền !

Mùa covid-19 năm nay đã chỉ rõ ra cho những người có trách nhiệm, bằng phương cách nào, không cần đến súng ống bom đạn, mà ai ở yên nhà nấy, không đi đâu hết. Kinh tế bị triệt tiêu, giảm thiểu, thất nghiệp, mất công ăn việc làm hàng loạt, thiếu ăn, khủng hoảng…nỗi lo của ai kia ? Rồi đâu lại vào đấy ? MTT

Khung cảnh trung tâm thung lũng Gavarnie với thác nước

Uy quyền của vua chúa Pháp qua kiến trúc vườn

14. août 2020

Uy quyền của vua chúa Pháp qua kiến trúc vườn – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Không phải là chỉ vì lười biếng trồng cây cho thẳng hàng, mà đối với tôi vườn cây thể hiện một sự tự nhiên của thiên nhiên, không ngay hàng thẳng lối, hoa không mọc từng cụm kết hợp, mà méo mó xẹo xọ, thứ này chen lẫn với thứ kia. Cái vườn của tôi là như thế. Thứ nào do chim chóc gieo hạt mọc lên tươi tốt thì để cho mọc, thứ nào tôi mua về trồng mà không hợp đất hay cây giống có thuốc, cứ nở hoa một lần thôi là ngủm thì thôi tôi không cố trồng nữa. Thiên nhiên cũng như con người, mạnh được yếu thua, cây nọ lấn cây kia, có những cây hoa được năm, sáu năm bỗng dưng chết mất, nó bị cây bên cạnh, khỏe hơn, vươn cao hơn, lấy mất sân chơi, có những cây hoa bỗng dưng xuất hiện tươi mơn mởn.

Vườn nhà tôi vì thế luôn thay đổi, cây sống, cây chết, cây mọc, cây di chuyển đi chỗ khác một cách tự nhiên trong thiên nhiên, hoàn toàn không sử dụng chất hóa học, chỉ có nước mưa và khí trời, ít có bàn tay con người, tôi và chồng tôi, can thiệp vào.

Khi còn sức lực để làm vườn, chúng tôi trồng 4, 5 năm luống khoai tây mỗi năm, rồi cà rốt, cà chua, ớt chuông, bí đỏ, dưa, ngò tây…hoàn toàn theo cách nhà nông truyền thống, không sử dụng phân bón hóa học, chất diệt cỏ dại hóa học, sới đất, làm đất, nhổ cỏ dại chúng tôi đều làm bằng sức lực tay chân, cuốc xẻng. Đất đen mịn, mầu mỡ, mỗi năm cho chúng tôi mấy trăm kí lô khoai tây, còn rau củ thì ăn không kịp, không hết.

Cây ăn trái, chúng tôi cũng chẳng mua cây giống gì nhiều. Có một lần một, tôi mua một cây lê giống và một cây táo giống còn nhỏ, lại không có lá hay hoa, rốt cục khi hoa nở, thì cây lê thành ra cây táo, và cây táo thì là giống táo khác tôi không muốn trồng, thì ra là nhà ươm giống dán nhãn sai bét, nhầm lẫn cây này với cây kia.

Chồng tôi gieo những hạt quả đã ăn, chờ cho chúng nó mọc lên, hạt nào khỏe thì mầm lên cao rồi thành cây con, sau tháng chín thì nhổ nó lên đem ra chỗ trồng. Anh cũng vào rừng, tìm cây ăn quả mọc dại, bứng lên đem về vườn nhà trồng. Bằng cách đó, những cây ăn quả vườn nhà đều khỏe mạnh, sau vài năm đã lớn và kể từ năm thứ năm trở đi cho nhiều trái khỏe. Chúng tôi có 7 cây mận các loại, 1 cây lê, 3 cây táo, 1 cây griottes và 2 cây mirabelles, cùng với 3 cây lá nguyệt quế (lauriers) chen lẫn với những cây hoa, hoa hồng, hoa dâm bụt, hoa xoan, hoa đào, hoa serenga, hoa boules de neige, hoa forthysia, hoa clématite …và cả chục loại cây khác làm hàng dậu quanh khu đất nhà. Thấm thoát vườn nhà đã được 20 năm tuổi, từ lúc mới gây dựng lên,

Nhiều người xem chuyện làm vườn như là thể thao thêm cho thân thể khỏe mạnh, tinh thần được sảng khoái, quên đi những nghĩ ngợi lo âu buồn phiền, ngoài việc có lợi về kinh tế gia đình, cho sức khỏe.

Tôi trồng cây theo phong thủy bao bọc quanh nhà, sườn bên phải nằm cạnh đường đi của làng thì tôi trồng một dãy cả chục gốc hoa hồng đủ mầu sắc, đủ giống, hồng vừa đẹp vừa thơm vừa có gai nhọn để bảo vệ. Nếu tin rằng mỗi cây có một thần trú ngụ thì nhà tôi được bảo vệ bằng bấy nhiêu thần cây. Chim chóc bay về tìm nơi làm tổ, đàn ong cũng bay đến tìm chỗ làm nhà, chẳng mấy chốc nhà có thêm nhiều khách trọ không tốn tiền trong vườn. Mỗi sáng sớm chim chóc hót vang lừng.

Áy vậy mà không vừa lòng hàng xóm, có ông thấy vườn nhà tôi thì khó chịu, bảo sao không trồng ngay hàng thẳng lối, có ông thì bảo hoa này thì phải chọn chỗ khác cho nó, có người lại bảo san phẳng hết đi, đốn hết cây ở vườn trước đi, mở lối vào nhà cho hoành tráng, có người lại bảo phải tỉa cây đi chứ, cắt bụi cho tròn, cho vuông vức….Nhưng cũng có người thích vườn nhà tôi, chăm sóc nhưng không kiêu kỳ, thơ mộng và không trưởng giả, rộng rãi mà không hoành tráng, mùa nào hoa nấy, hoa nở quanh năm suốt tháng.

Cái vườn này, nơi thiên nhiên ngự trị, dân ngu cu đen làm vườn có khác, không có một chút nào tính cách „vườn kiểu Pháp“ (jardin à la française) dù ở trên đất Pháp,

Vườn kiểu Pháp“ thể hiện quyền lực của vua chúa Pháp, cây phải trồng ngay hàng thẳng lối như binh lính đứng thẳng hàng, im lặng, sẵn sàng tuân lệnh vua, hoặc phải uốn éo theo hoa văn như ý thích của vua, không có cái lá cây nào được ra khỏi cái chỗ đã chỉ định, hễ lá nhú lên, ló đầu ra là bị cắt, không có cái hoa nào nở tự nhiên vô trật tự, hoa phải nở theo khung hình dáng, kỷ luật tuyệt đối.

Khu vườn kiểu Pháp phải được thiết kế theo hình học, những đường kẻ thẳng tắp ngang dọc, đối xứng với nhau trên những mặt bằng phẳng, những hình thoi, bát giác, lục giác, tam giác, những trục đường dẫn cân xứng với lâu đài phòng ốc và sân, cân xứng với những điểm nhấn trong khu vườn như nhà hóng gió, một bức tượng làm cảnh, một cái hồ, một vòi nước, một thác nước…. làm chuẩn, phải phản ánh một tầm nhìn xa, một tầm nhìn chiến lược của người chủ.

Tóm lại, thiên nhiên trong thiết kế vườn kiểu Pháp là thiên nhiên phải quy phục luật vua, phải theo trật tự, kỷ luật của vua áp đặt, phải chịu nép mình trong khoa học thực tiễn tượng trưng cho sự tiến bộ của xã hội và chứa đựng sự phô trương về quân sự. Vườn kiểu Pháp tức là hệ thống trật tự, ký luật, cân bằng, tinh khiết, tầm nhìn chiến lược để chứng tỏ uy quyền, địa vị tầng lớp quý tộc, thượng tầng xã hội và quan điểm một nếp sống cao cấp của chủ vườn.

Chung quanh những lâu đài của Pháp là những khu vườn rộng mênh mông nhìn hút mắt để dạo chơi, còn vườn trồng cây trái, hoa quả, rau củ để ăn, vườn cây thuốc được tách ra riêng biệt, nhưng cả ba loại vườn đểu thể hiện phong cách đặc điểm vườn kiểu Pháp. Dần dà người quyền quý, người trưởng giả, người có của…trong dân chúng đều thích những đặc điểm ấy và áp dụng cho vườn tược của mình, họ chế nhạo những người nông dân làm vườn vì chỉ nghĩ đến ăn, không nghĩ đến việc nào „cao“ hơn.

Vì thế, người làm nghề „làm vườn“ đến nay vẫn được trọng dụng, và người chủ, phải giầu có lắm, thường có chút hãnh diện khi nói về „người làm vườn của tôi“.

Những người làm vườn nổi tiếng của vua chúa Pháp, đưa tầm mức người làm vườn lên thành kiến trúc sư vườn tược, được sách sử ghi lại từ thế kỷ thứ 16.

Những kiến trúc sư này ghi dấu ấn trong những công trình có nghệ thuật phối cảnh (perspective) với một không gian rộng mênh mông và với một sự hoàn hảo (perfection) tuyệt vời. Lâu đài càng có giá trị khi khu vườn càng rộng, càng hoành tráng.

Một góc vườn của lâu đài Versailles

Chỉ nội công việc san phẳng những địa hình đồi núi lấy đất làm vườn cũng nói lên công sức của những người làm vườn thời xưa. Họ đưa cả những hệ thống nước để nuôi dưỡng vườn tược thành một nghệ thuật phản ánh như tấm gương với các mạch nước ngầm, thang nước, hồ, ao như những công trình kiến trúc trong tổng thể cảnh quan vườn.

Người làm vườn nổi tiếng trong lịch sử kiến trúc vườn kiểu Pháp gần đây là ông André Le Nôtre (họ của ông còn được viết nguyên thủy là Le Nostre) mang chức danh „người làm vườn của vua“ (Jardinier du Roi). Le Notre sinh năm 1613 và qua đời năm 1700, trong một gia đình có truyền thống từ ba đời là người trồng rau cỏ và làm vườn, thời của ông là nửa sau của thế kỷ 17.

Ông là người làm vườn của vua Louis XIV, lãnh trách nhiệm kiến trúc các khu vườn của lâu đài Versailles, ngoài ra ông cũng kiến trúc lâu đài Vaux-le-Vicomte và lâu đài Chantilly.

Allée des Beaux-Monts

Trên đường đến Paris là tâm điểm, ngay từ thời Charlemagne đã chọn địa điểm Compiègne là một nơi đóng đô, từ đó đến nay, trải qua gần hai ngàn năm lịch sử Compiègne luôn luôn có lâu đài của vua Pháp, hoàng đế Pháp, là nơi đã đón hai bà hoàng hậu, Marie-Antoinette của vua Louis XVI và Marie-Louise của hoàng đế Napoléon Ier, là nơi ký kết hiệp ước đầu hàng ngày 11.11.1918 của quân Đức kết thúc trận đại chiến thế giới lần thứ nhất. Lâu đài Compiègne hiện nay là kết quả xây dựng và sửa chữa của nhiều đời vua, mà trong đó Napoléon Ier đã để lại dấu ấn khi ông cho mở một đại lộ mang tên Allée des Beaux-Monts dài 4 cây số, rộng 60 thước xuyên thẳng qua rừng năm 1860, để từ phòng ngủ của mình hoàng hậu Marie-Louise có thể nhìn tới chân trời. Công trình này kéo dài đến 1823 mới hoàn tất thì Napoléon Ier đã mất trước đó vào năm 1821 trên đảo Sainte-Hélène.

Lâu đài nào cũng tương tựa nhau ở điểm kiến trúc nội thất, phòng rộng mênh mông, trần cao, cửa sổ nhiều, cao, hai cánh to, rèm cửa hai lớp nặng nề, các lò sưởi than củi cũng phải to khổng lồ mới đủ ấm. Khu vườn kiểu Pháp nào cũng giống nhau, mùa hè nắng chói chang không có một bóng râm, rất khác những kiểu vườn của Anh, của Nhật, của Việt Nam.

Lâu đài Le petit Trianon nhìn từ khu vực nông trại của hoàng hậu

Khi được vua Louis XVI tặng cho lâu đài nhỏ Le petit Trianon, hoàng hậu Marie-Antoinette liền cho thiết kế lại khu vườn thuộc lâu đài này theo ý riêng của bà, dựa trên nền tảng triết lý của Jean-Jacques Rousseau, với một sự hoài niệm về thiên nhiên, dân dã, đối lập với ý tưởng „vườn kiểu Pháp“, như một nơi để bà ở ẩn, rút lui, quên đi, so với cuộc sống bon chen trục lợi, nhiều hiềm nghi, hiềm thù trong triều đình nước Pháp thời đó. Công việc này được giao cho kiến trúc sư Richard Mique và họa sĩ Hubert Robert thực hiện từ năm 1783 đến 1786. Công trình này để lại cho hậu thế một „hameau de la Reine“ (nông trại của nữ hoàng), mà ngày nay mọi người có thể đến Versailles để chiêm ngưỡng những gì còn lại.

Chung quanh một cái ao đào để nuôi cá, câu cá, Richard Mique dựng lên một khung cảnh nhân tạo của một cái làng nhỏ đẹp như tranh vẽ gồm 12 cái nhà lợp lá theo phong cách của vùng Normandie, một nông trại để nuôi súc vật bò, cừu, gà…lấy sữa và trứng cho hoàng hậu, một nhà xay lúa, một chuồng chim bồ câu, một nhà chứa rơm rạ, một khuê phòng, một ngọn tháp…cũng như vườn cây ăn trái, vườn rau củ, vườn nho và vườn hoa…., ngôi nhà đẹp nhất trong làng này là „ngôi nhà của hoàng hậu“ (Maison de la Reine) nằm bên cạnh một con sông nhân tạo, bắc qua một cái cầu bằng đá…

Chỉ những người thân cận với Hoàng hậu Marie-Antoinette mới được vời đến đây, bà tìm cách dậy dỗ con cái biết thế nào là thiên nhiên, những bữa ăn đơn giản, những buổi vui chơi tự nhiên, ăn mặc quần áo đơn giản…

Tuy thế, đương thời, hoàng hậu Marie-Antoinette cũng bị chỉ trích nhiều, chi phí thiết kế nông trại ước tính lên đến 500.000 quan tiền vàng Pháp, vì lối sống xa cách triều đình, trong một không gian nhà quê giả tạo mà không hề bị thiếu thốn vật chất, thiếu thốn cái ăn như nhà quê thật sự, vì khu vườn được thiết kế theo ảnh hưởng của Anh và Trung quốc…và vì kế hoạch này mà khu vườn thuốc thời vua Louis XV với 4.000 giống cây thuốc phải dọn đi ra ngoài Jardin des Plantes ở Paris… Đúng là sống làm sao cũng không vừa ý được thiên hạ.

Hoàng hậu Marie-Antoinette nhìn lại nông trại lần cuối cùng một buổi trưa ngày 05.10.1789 để rồi vĩnh viễn vĩnh biệt luôn.

Hoàng hậu Marie-Louise, vợ của hoàng đế Napoléon I

Trải qua sự tàn phá và cướp bóc triệt để năm 1789, nông trại của hoàng hậu Maris- Antoinette suýt nữa bị lệnh triệt tiêu bởi Napoléon Ier, nhưng rồi được hoàng hậu Marie-Louise cứu, vợ của Napoléon Ier , sau khi đã ly dị với bà Josephine. Bà cũng là người gốc Áo, là cháu của hoàng hậu Marie-Antoinette, cho sửa chữa lại và bày biện với nội thất mới, nhưng một số kiến trúc, vườn tược của thời Marie-Antoinette đã bị hủy hoại hoàn toàn.

Qua nhiều thay đổi với thời gian, nông trại của hoàng hậu Marie-Antoinette được Unesco công nhận là di sản thế giới năm 1979. Đến năm 2006, thì khu vực này được đổi tên thành „Domaine de Marie-Antoinette“ mở cửa cho người xem rộng hơn là giới hạn khi trước vì sợ bị phá hoại.

Bây giờ, nội thất được triển lãm là nội thất thế kỷ thứ 18-19 của thời nữ hoàng Marie-Louise (1791-1847). Người thăm lâu đài Versailles, khu vườn của lâu đài, rồi sang thăm khu vực của hoàng hậu Marie-Antoinette sẽ thấy sự khác biệt giữa hai ý tưởng kiến trúc vườn, dù đây là những khu vực được chăm sóc rất nhiều, sức người, sức của bỏ ra để hấp dẫn du khách khắp thế giới. MTT

Tổng quan lâu đài Versailles

Lâu đài Versailles, nơi ở sau cùng của vua Louis XVI

Palais de Compiègne

Phòng ngủ của hoàng hậu trong Palais de Compiègne

Lâu đài Vaux-le-Vicomte

Khu vực nông trại của hoàng hậu Marie-Antoinette trong khuôn viên lâu đài Versailles

Ngôi nhà của hoàng hậu Marie-Antoinette và tháp canh

Ung thư, Hành trình đến với cảm thông

20. mai 2020

Ung thư, Hành trình đến với cảm thông – Cancer, Voyage vers la sympathie

là tập sách mới của Mathilde Tuyết Trần.

Phát hành ngày 11.06.2020 tại Pháp

ISBN: 978-2-9536096-6-0

Tập sách này được viết theo cái nhìn của một người bệnh ung thư, viết « nóng » theo dạng nhật ký thời gian, khi những cơn đau nhức nhối vẫn còn, những phản ứng phụ của thuốc chưa hết, những mệt mỏi còn bắt liệt giường. Vì thế, tầm nhìn chủ quan, phiếm diện. Người viết không có tham vọng thương mại, giáo dục hay triết lý, viết chỉ để hiểu những cái khó khăn của một người bệnh đi tìm thầy chữa bệnh, như một « chiến binh ung thư », vượt qua những lo âu, sợ hãi, con đường tìm đến một sự cảm thông, cái tình người, cái « lương y như từ mẫu ». Có hay không ? Hay chỉ là ảo ảnh như những ảo ảnh khác của cuộc đời trần tục.

Ce livret a été écrit dans les yeux d’un patient atteint de cancer, écrit à «chaud» sous forme de journal intime, lorsque les courbatures et les douleurs persistent, les effets secondaires du médicament ne sont pas terminés et que la  fatigue paralyse, cloue au lit.

Par conséquent, la vision est subjective, unilatérale. Elle raconte son histoire, son vécu, comme un parcours du combattant semé d’embûches qui se succèdent. L’écrivain n’a aucune ambition commerciale,éducative ou philosophique, n’écrivant que pour comprendre les difficultés d’un malade à chercher les médecins, surmonter son anxiété, son angoisse, chercher le chemin de la sympathie. L’amour humain, le modèle asiatique « médecine soignant comme une mère douce » existe dans le monde occidental ou non? Ou tout simplement des illusions comme d’autres illusions de la vie moderne et riche.

Échos des lecteurs / Ý kiến bạn đọc :

Colette:  » J´ai pris le temps de lire ton livre toute cette après-midi…Et le parcourant j´avais l´impression de t´entendre parler et m´expliquer. Ton récit est frappant et on a l´impression d´être dans les couloirs, dans les chambres préparatoires et chambre d´opération…Subitement on perd son sourire et on rentre dans ces nombreux tourments…et personne ne devrait traverser ce genre de problèmes… »

Jacqueline: « La doute, la peur, la douleur et tout le reste…Ne jamais baisser les bras…c´est aussi notre devise…Avec ton récit, lu d´une seule traite, et tes mots, si vrai, nous prenons conscience que nous ne sommes pas les seuls, à subir et à souffrir…Soldat Mathilde…bravo !… »

Isabelle: « C´est une vraie leçon de vie et de courage. Je garderai précieusement ce livre, car un jour ou l´autre, je serai peut être également condamnée à affronter cette terrible épreuve… »

M. :  » Bien écrit et facile à lire. Douloureux ! « 

G. Vinh San: « …très courageuse et très aimante. Avec les kilomètres que vous avez fait, vous auriez pu faire le tour du monde… »

Journal « Vivre », Mars 2019, N°381, Pages 34-41

Dans son article « Discriminations et accès aux soins des personnes en situation de précarité », Marianne Cornu-Pauchet décrit clairement le phénomène de discrimination susceptible d’aggraver le non-recours à la CMU-C et à l’ACS, mais aussi le renoncement aux soins.

Cette discrimination dont les patients les plus démunis font les frais se traduit par un refus de soin qui peut prendre plusieurs formes: le refus direct de rendez-vous, la fixation tardive inhabituelle et abusive d´un rendez-vous, l´orientation répétée et abusive vers un autre confrère, un centre de santé ou la consultation externe d´un hôpital sans raison médicale énoncée, le refus d’élaborer un devis…..Lié à des causes systémiques et contextuelles, le refus de soin est difficile à évaluer. Pour autant, son existence a été confirmée par la DREES…

P.H.H:  » Cuốn sách của Tuyết rất quý vì nó chia sẽ nh̃ững trải nghiệm cá nhân mà ít người đồng bệnh có khả năng diễn đạt như vậy. Nó giúp người đọc có được sự cảm thông sâu sắc… »

TS Nguyễn Tường Bách (Đức):  » Viết cuốn sách để ôn lại quãng đời và quá trình bệnh tật của mình là một cách hay để nhận diện lại thân tâm mình. Đó cũng là một dạng của lòng biết ơn (Dankbarkeit). Và nhất là đó là phương thuốc để giữ sức khỏe lâu dài….Cuốn sách mang lại một cảm nhận chân tình, muốn chia xẻ với người đọc. Thật là quí….

Tôi đã đọc tác phẩm của Tuyết. Đầy ắp thông tin, cảm nhận, suy tư…kể cả những thông tin nóng hổi nhất về Corona. Đây là một cuốn sách đáng đọc, đáng tìm hiểu cho những ai phải trải qua hoạn nạn của bệnh tật. Nó sẽ là nguồn động viên từ một tấm lòng thương yêu cuộc đời và quyết tâm cứu vãn chính mình. Đặc biệt đối với những ai cùng một thứ bệnh, sách này có thể mang lại niềm tin trong cuộc sống.

Điểm một cuốn sách, ta có thể nhìn dưới nhiều khía cạnh khác nhau. Ở đây, tôi kể Tuyết cách nhìn của tôi.

Tác phẩm này là một cuộc hành trình tự nhìn thân và tâm của chính mình. « Tự nhìn thân tâm » có một chiều sâu hơn hẳn chuyện chữa trị bệnh tật. Erkenne Dich selbst, như người phương tây hay nói, vốn là một cách để vượt thoát giới hạn của mình, nói một cách triết lý. Tự nhìn thân tâm, nếu nhìn theo triết lý phương Đông, nhất là Thiền định, chính là con đường đi đến một mức độ sáng sủa và tự tại hơn.

Với tác phẩm này, Tuyết đã (vô tình hay cố ý) tự nhìn vào bên trong, bên trong thân mình, bên trong tâm mình, nhìn cả dòng chảy của đời mình. Với bệnh ung thư, thân đã phát tiếng kêu la, thân âm mưu « nổi loạn ». Qua cuốn sách này ta thấy tác giả đã Versöhnen (giảng hòa) với nó. Với tâm, Tuyết đã nhận biết tấm lòng yêu cuộc sống và con người. Với số phận thăng trầm, qua cuốn sách, Tuyết đã chấp nhận hết các mặt của nó.

Tôi tin rằng với tác phẩm này, Tuyết đã tự chữa trị cho chính mình, trên một bình diện cao hơn ngành y khoa.

T. N. Giao : Tối chủ nhật mình đọc vài trang, đến chiều nay thì đọc xong. Câu chuyện tuy ngắn, nhưng phải nhìn nhận đúng là một hành trình dẫn đến cảm thông đối với người bị bệnh ung thư nói chung. Thú thật khi đọc xong đến trang cuối mình vẫn còn run và xúc động. Như Tuyết biết, em mình cũng bị ung thư nhưng không qua khỏi, chỉ kéo dài khoảng 6 tháng rồi ra đi. Tuyết có khả năng và kiến thức liên quan để diễn tả mạch lạc những diễn biến bệnh lý và quá trình điều trị cho người khác cùng đọc để hiểu và cảm thông.

Lúc đầu mình cũng ngại, vì nghĩ ung thư vú nên dành cho phụ nữ đọc để học hỏi kinh nghiệm của Tuyết. Hơn nữa bản tính mình rất sợ bệnh tật, không dám đối diện với những sự thật mà mình biết Tuyết sẽ kể lại trong sách, nhưng rồi cũng đọc vì tò mò.
Đọc vài trang đầu đã thấy oải rồi, vì Tuyết trình bày sự việc khá trực diện, sau đó có chêm vào một vài câu chuyện vui riêng tư bên cạnh để làm nhẹ bớt cảm giác nặng nề. Quá trình và điều kiện chữa trị khá chật vật, phải di chuyển nhiều nơi trong thời gian dịch bệnh Covid-19 càng tạo thêm không khí khó thở…Tất nhiên vượt qua được hay không vẫn chính là Tuyết, cạnh đó cũng cần đến những yếu tố hệ thống bệnh viện máy móc và đội ngũ bác sĩ và y tá…Tóm lại thành công là duyên mà không vượt qua được cũng là duyên.

Một quyển sách nên đọc, đáng được trân trọng vì đó là những thông tin thực tiễn rất quý của người trong cuộc đã trải qua.

ĐỗĐắcVọng: tuần rồi, đã nhận được sách Tuyết gửi, nên đã đọc hết ngay (đến trang 99).
Thật cảm phục Tuyết, giữa những đau đớn, mệt nhọc và đủ thứ chịu đựng… do cơn bệnh mang lại, mà có thể tỉnh táo và đầy nghị lực để viết ra chia sẻ với người khác. Lời kể rất tự nhiên, chân thực khiến mình vừa bồi hồi, xúc động và hiểu thêm nhiều về người bạn ngỡ là đã biết từ rất lâu.
Có nhiều câu hỏi “tại sao lại là tôi”, why me, xảy đến trong cuộc đời, và nếu câu trả lời gắn với một sứ mệnh nào đó có thể mang lại nhiều ý nghĩa nhất. ..
Cơn bạo bệnh như “lửa thử vàng” để tình cảm và hạnh phúc thăng hoa…..
Thật đáng thán phục khi sự sống bị đe dọa, rình rập có thể bị cướp đi thì sức sống lại mãnh liệt, năng lượng sống cuồn cuộn tuôn trào, trong khi có những cuộc sống bên ngoài nhìn bình thường thì sức sống có lẽ đã tắt ngấm từ lâu…
Có lẽ Tuyết sẽ cần phải tái bản, nên có một số chi tiết vụn vặt khi đọc bị cộm….

GSTS Nguyễn Xuân Xanh:
Đó là một hành trình nước mắt, đấu tranh và hy vọng ngày đêm trong một cuộc đời người. Nhưng nền y khoa Pháp và tình yêu của người thân đã giúp vực em ra khỏi miệng « lỗ đen » của định mệnh để quay trở về cuộc sống bình an. Bao nhiêu cái « ải của đau đớn » dằng dặc em đã đi qua một cách dũng cảm.
Quyển sách này không phải là quyển sách cuối cùng, như em lo ngại, mà có lẽ sẽ còn quyển sách thứ hai: quyển sách nói về sự sống. Phải đối diện với cái chết mới thấy yêu, thấy quý cuộc sống. Chẳng phải cuộc sống bình yên đã là nirvana hay sao? Có những người mà đối với họ không gì là điều huyền diệu cả. Nhưng có lẽ giờ đây em sẽ cảm nhận mọi thứ của cuộc đời đều là huyền diệu cả, và vô giá tạo mà hóa đang ban tặng em và loài người, từ áng mây trời, cơn mưa, đến hoa thơm, cỏ dại. Nếu qua đi, biết mình có lần sau không?

Sách song ngữ Việt – Pháp gồm có 204 trang DIN A5, in trắng đen, trong số này có hai trang in mầu offset, in, xuất bản và nộp lưu chiểu tại Pháp tháng 5/2020. Giá bìa 16 euros.

Bạn đọc mua sách xin đặt qua trang mạng, mục Liên hệ. Xin cảm ơn. MTT

Bên lề nạn dịch Covid-19 ở Pháp

22. avril 2020
tags:

Bên lề nạn dịch Covid-19 ở Pháp – Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Bài đã đăng trên tạp chí Hồn Việt của Hội nhà văn Việt Nam, số tháng năm 2020

Ngày 17.03.2020, cho tới 12.00 giờ trưa, người nào còn kịp nghe tin tức buổi sáng đều hối hả chạy ra siêu thị mua thực phẩm cho những ngày tới. Trong sự hốt hoảng, những người đi siêu thị cứ chất đầy một cái xe đẩy, không nghĩ ngợi lôi thôi, cứ mua cái đã, rồi tính sau. Chẳng mấy chốc, các kệ hàng sạch bách, người tiêu dùng nhắm vào các thứ như giấy vệ sinh, mì ý các loại, đồ hộp, bột mì, bột nổi, đường, trứng, dăm bông, thịt hun khói, sữa tươi, sữa chua, bơ, nước hoa quả ép…làm cho người đến sau không có mà mua, mang thêm tâm trạng hoảng hốt. Sau 12 giờ là thời điểm cách ly toàn xã hội tại Pháp.

Hôm qua, thứ hai 16.03, cả nước Pháp ngạc nhiên khi thấy dân Pa-ri-siêng vội vã kéo va li ra các nhà ga hàng loạt, đến tối mịt vẫn còn những đoàn xe từ Paris hấp tấp nối đuôi nhau chạy về hướng Nam, hướng Tây, làm kẹt xe đến khuya. Những người trố mắt nhìn cảnh tượng ấy tự hỏi, họ biết từ bao giờ chính phủ sẽ ban hành lệnh cách ly mà tháo chạy khỏi Paris như thời đệ nhị thế chiến ? Họ đi về vùng biển Địa Trung Hải phía Nam, hay biển Đại Tây Dương phía Tây như là đi nghỉ hè, một mùa nghỉ hè dôi ra, tặng không, trong khi cả nước Pháp sửa soạn chống dịch, trên nguyên tắc. Nhờ vào mạng điện thoại đi động xác định được 17% dân số của vành đai lớn Paris đã rời khỏi Paris trong vòng từ ngày 13 đến 20.03.2020, còn dân số tính riêng của nội thành Paris thì có khoảng 580.000 đến 610.000 người (tức là ¼) đã rời khỏi Paris. Đó là thành phần giẩu có, có nhà thứ hai ở nhà quê, hay đi thuê thêm, hay về ở với cha mẹ, họ hàng. 

Des voyageurs quittent Paris par le train via la Gare Saint Lazare lors que l’épidémie de coronavirus s’étend et oblige au confinement
Paris le 16/03/2020 Photo François Bouchon / Le Figaro

Nạn nhân tử vong vì Coronavirus đầu tiên tại Pháp tại bệnh viện Bichat Paris là một người đàn ông 80 tuổi, du khách, quê quán ở Hubei, đã đi qua Wu Han, nhập viện ngày 25.01.2020, qua đời ngày 14.02.2020. Kể từ đó dịch Corona khởi động tại Pháp, nhưng sự việc tưởng chìm đi so với thời sự đang nóng bỏng tại Pháp.

Cuối tháng một, các hãng hàng không quốc tế tại Pháp tạm cắt đường bay đến Trung Quốc và nước này cắt đường bay đến một số nước châu Á trong đó có Việt Nam, nhưng vẫn giữ đường bay của họ với Pháp, du khách Trung Quốc vẫn tiếp tục đến Pháp.

Ngày 30.01.2020 nước Pháp cử một máy bay Airbus A340 của quân đội không quân Pháp đến Vũ Hán để giải thoát khoảng 200 công dân Pháp tại đây về Pháp.

Trên báo chi đã thấy xuất hiện câu hỏi, chúng ta có phải đóng cửa biên giới ? Điều này có nghĩa là đóng cửa cả khu vực Schengen của cả 28 nước thành viên Liên Minh châu Âu, cả một vấn đề khó khăn, đâu phải ngày một ngày hai mà một quốc gia tuyên bố đóng cửa bầu trời của 28 nước được ! Nạn dịch Corona hãy còn trong vòng « giả thuyết » (eventuell) và xa xôi ở tận châu Á.

Ngày 13.01.2020 nước Thái Lan chính thức thông báo có dịch với vi khuẩn SARS-CoV-2.

Pháp và châu Âu vẫn phớt lờ lời cảnh báo đại dịch của WHO từ ngày 30.01.2020, nhưng đến ngày 11.03.2020 WHO mới tuyên bố chính thức đại dịch toàn cầu.

Từ phía Bắc của Paris, chúng tôi đi suốt chiều dọc nước Pháp đi Lourdes hành hương vào giữa tháng hai, vẫn thấy những đoàn du khách Trung quốc kéo nhau về Lourdes bằng xe bus. Mùa đông ở Lourdes, chỉ có khách du lịch Trung quốc là nhiều nhất. Dọc đường đi, dân chúng còn rất yên bình, các nơi đi qua đều yên tĩnh, bình thường, không thấy có dấu hiệu gì về dịch cả. Tuy nhiên, trong một nhà hàng ăn, mặc dù đi cùng với chồng tôi là người Pháp, ông chủ nhà hàng vẫn có lời tiếng, với giọng điệu nứa thật nửa giỡn, cho rằng người Á châu đem đại họa đến cho toàn thế giới, phải đuổi về châu Á.

Ngày 17.03.2020 dồn dập tin Liên Minh châu Âu tuyên bố đóng cửa bầu trời Schengen, nước Đức tuyên bố đóng cửa biên giới với năm quốc gia lân cận là Pháp, Lục Xâm Bảo, Đan Mạch, Thụy sĩ và Áo, hãng hàng không VietNam Airlines tuyên bố tạm dừng các chuyến bay đến Pháp, đến châu Âu, thánh địa Lourdes cũng đóng cửa không nhận du khách nữa. Cái tin 18 người Việt lên chuyến máy bay cuối cùng trở về Việt Nam loan trên mạng làm cho những người Việt khác còn ở lại nước ngoài đều kinh ngạc. Làm cách nào mà có người biết để mua vé máy bay, sửa soạn, về nước kịp thời, người lại không biết một tí gì ? Có những thành phần được ưu đãi, nhận thông tin đúng lúc ?

Cũng như cái tin, một đại gia thuê cả một chuyên cơ riêng để chỉ đưa độc nhất cô con gái từ Anh về Việt Nam làm ai nấy đều hít hà chắt lưỡi, giầu có đến thế ít người tưởng tượng ra được. Những người Việt còn bị kẹt trở lại vì nhiều lý do công ăn việc làm, sức khỏe, gia đình làm sao mà về được Việt Nam đây ? Sự chia ly thời chiến tranh của quá khứ lại được dịp sống lại với một sự sợ hãi trong thực tế.

12 giờ trưa, thời gian thoạt đầu như ngừng lại. Những tấm ảnh về thành phố vắng xe cộ, vắng bóng người xuất hiện trên báo chí, trên mạng. Nhưng chẳng được bao lâu. Nhiều người không chịu nổi cảnh tù túng trong bốn vách tường, nhất là những người trẻ, có con nhỏ, sống trong điều kiện chật hẹp, lại túa ra đường.

Năm nay mùa xuân về rực rỡ, tháng ba các cây hoa đều nở rộ, đẹp ngất ngây, nắng xuân ấm áp khiến lòng người hưng phấn, người lớn, con nít, người già kéo nhau ra đường như trẩy hội, người chạy bộ (joggers) chạy đầy đường, công viên, bờ kè sông Seine, các cánh rừng thưa….cảnh sát vất vả kiểm soát, giản tán…

Tính đến ngày 01.04.2020 cảnh sát đã kiểm soát 5,8 triệu người và lập 359.000 biên bản phạt tiền rất nặng, kể cả phạt tù những ai vi phạm nhiều lần, bướng bỉnh chống đối. Đường làng, đường liên tỉnh, đường quốc lộ vẫn có xe chạy ngược xuôi, phần lớn là xe tải chở hàng hóa, và một số ít xe nhỏ. Tuy thế những người buôn bán ma túy vẫn lái xe đến những chỗ hẹn bên đường làng, chờ đợi. Các nhà hàng xe tải đều phải đóng cửa theo lệnh, không biết những tài xế xe tải ăn, ngủ ở đâu ? Tiếng kêu cứu của họ được cứu trợ sau đó bằng một bữa ăn nóng phân phát vào buổi tối trên xa lộ.

Sự cách ly xã hội đến với nhiều người một cách bất ngờ, thế hệ trẻ sau này không có kỷ niệm những năm tháng chiến tranh, họ không quen bị quản thúc tại gia, mất tự do cá nhân, tự do đi lại, đặt nhiều câu hỏi cho thấy tầm mức ý thức của họ còn rất thấp, chỉ biết nghĩ cho riêng mình cho nhu cầu của gia đình mình, thí dụ như : tại sao đường vắng thế này tôi không được ra đường lâu ?!

Sự cách ly xã hội còn làm nổi bật lên những vấn đề….xã hội : chồng đánh vợ, cha đánh con đến chết, áp bức tình dục, trầm cảm, lo sợ, quan hệ hàng xóm láng gi