Aller au contenu principal

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione

7. octobre 2018

Biển cả và chiến thuyền L’Hermione * ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

1280px-Hermione_Brest_10_08_2015_101

Chiến thuyền L Hermione tiến vào cảng Brest 2015

Đã từ rất lâu, các nhà có hiểu biết khoa học, biết rằng ba phần tư diện tích trái đất là biển  cả. Muốn chinh phục thế giới, chinh phục các lục địa, các quốc gia, các phần đất hoang vu xa xôi thì phải chinh phục biển cả. Quá trình chinh phục thế giới vì thế gắn liền với quá  trình phát triển hàng hải, hải quân và các ngành khoa học kỹ thuật phục vụ cho hải quân  như địa lý, thiên văn, chế tạo vũ khí…

Đối với các quốc gia có biên giới bờ biển thì hải  quân  là sự sống còn của quốc gia đó.  Muốn giữ nước thì phải có một lực lượng hải quân hùng mạnh. Một thí dụ còn  tồn tại trong trí nhớ hiện đại là cuộc đổ bộ trên bờ biển Normandie nước Pháp của quân  đội Đồng Minh và lực lượng kháng chiến Pháp vào ngày 06.06.1944, đưa đến sự tháo chạy  của quân đội Đức quốc xã, một trong những yếu tố kết thúc đại chiến thứ hai 1945.blog3__005796300_1643_08092014

Vàng, gỗ và sắt là ba nguyên liệu khơi dậy ham muốn tột cùng trong thời đại Trung cổ. Để  lên đường tìm vàng, con người nghĩ đến đường biển. Muốn thế, phải có thuyền to đủ sức  vượt đại dương. Muốn đóng thuyền thì cần gỗ tốt, sắt, đồng và kỹ thuật. Đóng được  thuyền rồi thì cần phải có hải quân và nhà địa lý, người vẽ bản đồ thế giới và địa phương,  định  phương hướng và cung cấp những thông tin sơ khởi, cơ bản về con người, mầu da,  tiếng  nói, tôn giáo, tập tục, phong thổ, khí hậu, đất đai, biên giới, sông lạch, biển hồ, núi  non,  đường xá, cách tổ chức xã hội, nông nghiệp, thương mại…  của những vùng đất họ  mới  khám phá ra, cho các triều đình vua chúa Âu châu.

Công xưởng La Corderie Royale ở cảng Rochefort, Pháp. Photo: MTT

Các cuốn sách địa lý cổ, tuổi đã mấy trăm năm, là những nguồn thông tin rất hấp dẫn, lý  thú. Bản đồ xưa nhất thế giới mà các nhà khảo cổ học tìm thấy có lẽ là những vạch khắc  trên đá của người da đỏ châu Mỹ mười ngàn năm trước Thiên Chúa. Từ đó, những kiến  thức mới mẻ về địa lý, thiên văn và công việc vẽ bản đồ không ngừng tiến triển, rất   được trọng dụng, được xem là những tư liệu tối mật,  có tác dụng chính trị và quân sự  làm thay đổi bộ mặt thế giới, có tầm quan trọng quốc gia, chỉ dành riêng cho vua chúa  và triều đình.

Con người biết đóng thuyền để di chuyển trên sông lạch biển hồ từ rất lâu, đến mấy ngàn  năm trước dương lịch. Các cuộc di dân từ lục địa này sang lục địa khác từ các thời cổ đại  làm cho các nhà khảo cổ học đặt câu hỏi về đường biển, dân di cư không thể vượt đại  dương bằng chân được , họ đã phải biết dùng thuyền. Tuy nhiên, những vết tích khảo cổ  học còn lại chỉ chứng minh được sự phát triển của ngành đóng tàu từ khoảng thời gian  hai ngàn năm trước dương lịch, và sở dĩ các dân tộc Hy Lạp, La Mã và Ai Cập trở thành  những cường quốc trước dương lịch chính vì họ đã có các đội thủy quân hùng hậu. Đến  thế kỷ thứ mười bốn, con người đã có kỹ thuật đóng những chiếc thuyền rất to, vượt  đại dương, có trang bị súng ống.

Các loại dây thừng to nhỏ sử dụng trên chiến thuyền. Photo: MTT

Thời Trung cổ các hoạt động thương mại liên lục địa theo đường bộ đã rất tấp nập.  „Con đường tơ lụa“ (la route de la soie, the Silk Road) – tên dịch theo nguyên gốc tiếng  Đức „die Seidenstrasse“ do nhà địa lý người Đức Ferdinand von Richthofen đặt ra sau  này vào năm 1877 – là „con đường“ thương mại nổi tiếng trên thế giới từ thời Marco  Polo trong thế kỷ thứ mười ba, xuyên từ châu Á sang châu Âu bằng đường bộ, một mạng  lưới hệ thống buôn bán chằng chịt từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam. Nhưng đường  bộ xuyên lục địa, xuyên qua biên giới lãnh thổ nhiều nước đem lại rất nhiều hiểm nguy  không biết trước và cũng không né tránh được, gây ra rất nhiều khó khăn, mất người  mất của trong việc mua bán chuyên chở hàng hóa, cho nên các nhà buôn từ Âu châu  tích cực tìm cách xây dựng đường biển trong vấn đề thương mại: biển cả không có  biên giới !

Trong thời đại Toàn cầu hóa của chúng ta ngày nay, ở vào thế kỷ thứ 21, những suy tính của thời Trung cổ chưa hề bị mất tính thời sự. Nhân công rẻ, sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại chỗ và chiếm hữu đường biển để chuyên chở hàng hóa là 3 điều kiện tiên quyết để phát triển giầu có, mà công cuộc phát triển công nghệ, khoa học kỹ thuật cũng không ngoài mục đích phục vụ cho một mục đích tối hậu đó. Thay vì nô lệ thời Trung cổ, nền khoa học kỹ thuật tiên tiến đang chế tạo Robot và sử dụng những hệ thống tự động trong sản xuất để thay thế sức người. Từ những thế kỷ cũ cho đến hiện đại thì tiền và quyền lực là trên hết, đó là chiến lược, là chính sách, là mục đích.

Cỗ máy bện dây thừng. Photo: MTT

Ý đồ này phù hợp với chính sách quân sự và chính trị đế quốc của các triều đình châu Âu,  đôi bên cùng có lợi, cho nên sự phát triển về đường biển được hai thế lực chính, thương  mại và hải quân, thúc đẩy rất nhanh chóng. Các cuộc thám hiểm bằng đường biển trở  thành một cuộc chạy đua với thời gian. Đường biển, xem ra thì mênh mông, chứa đựng  nhiều nguy hiểm vì thiên nhiên, nhưng lại ít nguy hiểm vì con người.  Con đường ra biển cần phải có nhiều đầu tư và kỹ thuật.

Vào đầu thế kỷ thứ mười lăm, nhờ sự tiến bộ về hàng hải, người Bồ Đào Nha đã bắt đầu  những cuộc thám hiểm bằng đường biển, khám phá ra những vùng xa xôi trên trái đất,  và qua đó bắt đầu đặt nền tảng cho đế quốc Bồ Đào Nha. Họ đem các sản phẩm địa  phương đặc sắc khắp nơi về trình triều đình Bồ Đào Nha. Chính các thuyền biển của Bồ Đào  Nha  đã cập bến Việt Nam, trước người Pháp, nhưng sau này họ đồng ý „nhượng quyền“  khai  thác Việt Nam cho Pháp. Có thể nói, hai nước thực hiện chính sách thực dân sớm  nhất,  trong mục đích bảo đảm độc quyền sản xuất và thương mại các sản phẩm đặc biệt  của các thuộc địa, thông qua chiêu bài truyền đạo Thiên Chúa là Bồ Đào Nha và Tây  Ban Nha. 1) 2)

Một cuộn dây thừng

Từ ham muốn đi tìm vàng, người Âu châu khám phá thêm một nguồn lợi bóc lột khác:  nô lệ, và nhiều nguồn lợi khác, không có trên đất của họ. Công việc buôn bán nô lệ được  Giáo Hoàng Léon X chính thức cho phép vào năm 1517.

Từ đầu thế kỷ mười sáu, các quốc gia Anh, Hòa Lan, Pháp và Ý tranh dành quyền lực  trên biển với Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, nhiều trận hải chiến nổi tiếng đi vào lịch sử… Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha mất dần ưu thế và xuống hàng thứ yếu. Trước thế lực và sự  bành trướng của ba đế quốc Anh, Pháp, Đức từ thế kỷ 17, nước Mỹ cũng tìm cách trở  thành  một thế lực mạnh nhất toàn cầu, mua Alaska của Nga năm 1867 với giá là 7,2 triệu đô la Mỹ, và đi tìm chiếm hữu thuộc địa, chủ yếu các vị trí chiến lược mới trên vùng  biển Thái Bình Dương, Ấn độ dương và Đại tây dương.

Vào đầu thế kỷ thứ mười bẩy, các thương nhân giầu có ở Pháp, với sự ủng hộ đặc biệt của  Jean-Baptiste Colbert, xin được đặc quyền của vua Louis XIV và triều đình thiết lập công  ty  hàng hải để buôn bán với các nước ở châu Mỹ và châu Á. Họ dùng vị trí địa lý của Ấn  Độ làm trung tâm và đặt tên hai công ty hàng hải cho hai hướng khác nhau: Compagnies  des  Indes occidentales thành lập năm 1664 để buôn bán với châu Mỹ và Compagnies  des Indes orientales thành lập cùng năm 1664 để buôn bán với châu Á.

Muốn chiếm hữu thuộc địa và chuyên chở tài nguyên, hàng hóa khắp nơi trên thế giới,  Colbert thúc đẩy phát triển lực lượng hải quân và hàng hải thương mại, mộ quân lính,  nỗ lực đóng tàu, xây dựng cảng, các kho hàng khổng lồ, kho súng ống đạn dược – vũ khí  là  một loại hàng xuất cảng của Pháp rất được hâm mộ bởi các nước còn kém phát triển  về  kỹ thuật – cho nên

Rất nhiều giây thừng nhỏ bện lại thành giây thừng lớn. Photo: MTT

Colbert cũng được xem như cha đẻ ra quyền lực hải quân của  Pháp,  đồng thời cũng là người  thúc  đẩy chính sách chiếm hữu thuộc địa.

Cùng thời đại với Colbert và triều đình vua Louis XIV, ở nước ta là thời „một vua hai chúa“  và „Trịnh-Nguyễn phân tranh“, tức là đời thứ ba của dòng chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc  Nguyên tục gọi là Chúa Sãi, 1613-1634, triều đình vua Lê Kính Tông (Lê Duy Tân) và chúa  Trịnh (Trịnh Tùng  1570-1623, Trịnh Tráng 1623-1657).

Các chúa Nguyễn mở đường mở đất xuống phía Nam, nhà Hậu Lê dần dà suy yếu, các cuộc  nội chiến giữa hai quân quyền Trịnh-Nguyễn và các cuộc chiến tranh Nam tiến tuy củng  cố thế lực của nhà Nguyễn nhưng làm cho cả ba quyền lực lãnh đạo Lê-Nguyễn-Trịnh quên công việc nhìn ra bên ngoài biên giới nước Việt, nhất là về hướng Âu châu,  thấy hiểm họa các thế lực đế quốc Âu châu đang trên đường thực hiện chính sách chiếm  hữu thuộc địa. Con đường Nam tiến của các chúa Nguyễn là con đường chiến lược đúng  đắn,  nhìn xa trông rộng lâu dài.

Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật tại Âu châu, được đánh dấu bởi phát minh ra máy chạy  bằng hơi nước của James Watt (1736- 1819), đồng thời đại với chúa Định Vương Nguyễn  Phúc Thuần tại Việt Nam (1754-1777) 3). Trong khi Âu châu và Mỹ châu bắt đầu đi vào  thời đại kinh tế tư bản với sự phát triển nhanh chóng mạnh mẽ của tất cả mọi ngành  nghề  kỹ thuật cao cấp, nặng và nhẹ, thì nước ta còn trần ai khổ ải trôi nổi trong các cuộc  nội chiến giữa ba thế lực Lê-Trịnh-Nguyễn và sự xâm lăng của nhà Thanh bên Tàu, khi  vua Lê Chiêu Thống chạy sang Tàu cầu cứu với mục đích muốn khôi phục lại ngôi báu nhà Hậu Lê.

Biểu diễn bện dây thừng theo phong cách cổ xưa. Photo: MTT

Nếu lấy cuộc Cách mạng dân chủ 1789 tại Pháp làm mốc thời gian, thì kể từ ấy, cuối thế kỷ  mười tám, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật dần dần hình thành rõ nét, các phát minh,  sáng chế cải thiện sản xuất và đời sống nối đuôi nhau xuất hiện, các nước Âu châu thoát  ra  khỏi thời kỳ nông nghiệp, để trở thành những quốc gia phát triển kỹ nghệ. Các cường  quốc  Âu châu Anh, Pháp, Đức, Hòa Lan, Ý…sôi sục tranh dành nhau chiếm hữu thiết lập  thuộc địa, phân chia bản đồ thế giới vì họ đều cần tài nguyên thiên nhiên sắt, thép,  than, dầu hỏa, vàng, bạc, chì, kẽm…và nhân lực, ít hay không có tốn kém.

Giữa thế kỷ 19, Phó đô đốc hải quân Charles Rigault de Genouilly đã với sự giúp sức của quân  Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng (Tourane) vào ngày 01.09.1858, mở đầu mở đầu cho công  việc chính quyền thực dân Pháp chiếm hữu Việt Nam làm thuộc địa.

Lịch sử ngành đóng tàu bắt đầu từ mấy ngàn năm trước dương lịch, người Ai Cập, La Mã,  dân Wiking Bắc Âu của thời thượng cổ đã đóng những chiếc thuyền lớn chèo bằng nô lệ  và có buồm vải. Nhưng vấn đề đặt ra khi ấy là làm thế nào để đóng những chiếc thuyền đủ  sức ra biển khơi sóng cả mà không vỡ tan ra từng mảnh hay chìm lỉm chỉ vì một con  sóng  dữ, và lênh đênh nhiều ngày trước khi cập được đất liền.

Cụ bà hơn 80 tuổi còn hăng say biểu diễn bện dây thừng bằng tay theo phương pháp cổ. Photo: MTT

Tuy rằng đứng trên bình diện kỹ thuật, các thuyền đóng ở Trung Hoa vào thế kỷ mười ba vượt trội hơn nhiều loại thuyền đồng thời của Âu châu, nhưng sự ra đời của chiến  thuyền Caravelle đã đem lại một bước ngoặt và một ưu thế vô cùng to lớn cho người Âu  châu trong mục  đích thám hiểm vòng quanh trái đất và chiếm hữu thuộc địa.

Thuyền Caravelle (tiếng Pháp) là kết quả của một sự phát triển về kỹ thuật đóng thuyền xây dựng trên những mẫu thuyền đánh cá đã có từ nhiều thế kỷ trước, chủ yếu dùng để  di  chuyển trên sông  lạch hay ven biển.

Chiến thuyền này đáp ứng được mọi nhu cầu cần thiết: ra được biển khơi, lướt nhanh sóng  cả, chịu gió, đủ lớn để chứa lương thực và nước uống dự trữ cho nhiều ngày, có trang bị  súng cà nông. Tên Caravelle, tiếng Bồ Đào Nha là Caravela, xuất hiện trong sử sách từ năm  1226.  Đến cuối thế kỷ thứ 15 thì chiến thuyền Caravelle được đóng với chiều dài từ 30 đến 35 mét, có ba cột buồm thay vì hai buồm như trước kia, sức chuyên chở vào khoảng 63,5 tôn nô, và thủy thủ đoàn cần có đến 60 người, thay vì 20 người trước kia. Cuối thế kỷ thứ 16, chiến thuyền  Caravelle được đóng với sức chuyên chở đến 158,5 tôn nô. Hậu thân của chiến thuyền  Caravelle là loại thuyền Galeone.

Bài viết này đơn cử thí dụ chiếc chiến thuyền mang tên L‘Hermione, thuộc hàng chiến  thuyền nhẹ (frégate), chiều dài tổng cộng 65 mét, bề ngang bên trong rộng hơn 11 mét,  có sức trọng tải  1.116  tôn nô (tonneaux) và 255 người, chứa 26 khẩu súng cà nông bắn đạn 12 livres (khoảng 6 kí lô một viên đạn) và 8 khẩu súng cà nông bắn đạn 6 livres  (khoảng 3 kí lô), có ba cột buồm, cột buồm chính cao 54 mét, giăng một diện tích buồm là  1.500 mét vuông.

Photo: MTT

Năm 1778 chính tại cảng Rochefort, nơi có công xưởng la Corderie Royale nằm gần sát bờ  sông, chiến thuyền nguyên thủy được đặt tên là  l’Hermione đã được cấu tạo.

Cảng Rochefort nằm kín đáo, dễ phòng thủ và khó bị tấn công, trên cửa sông Charente đổ ra biển (Bretagne) là một cảng nhỏ, đóng và sửa chữa  tàu truyền thống của hoàng gia Pháp từ thời Colbert, thế kỷ thứ 17. Ngay tại cảng có công xưởng la Corderie Royale là nơi chế tạo các sản phẩm phục vụ ngành đóng tàu như  dây thừng, buồm vải…và các vật dụng linh tinh khác.

Tầng dưới boong tàu trong chiến thuyền Hermione đang được xây dựng. Photo: MTT

Chiến thuyền l’Hermione do kiến trúc sư Chevillard Aîné thiết kế mẫu, cùng được đóng một lúc tại Rochefort với ba chiến thuyền khác mang  tên là la Courageuse, la Concorde và la Fée. 18 ngành nghề thợ thuyền với tổng cộng 286  người chuyên nghiệp đã tham dự đóng tàu. Phí tổn đóng chiến thuyền L‘Hermione lên đến 476.932 quan tiền vàng (livres), tương đương với  4.006.229 quan Pháp năm 1987.  Ngày 14.05.1779 sĩ quan và thủy thủ đoàn tổng cộng 272 người lên chiến thuyền L‘Hermione mới tinh, dưới đáy thuyền là thực phẩm đủ ăn cho 5 tháng và 60  thùng nước uống.

Thời ấy, với một đội ngũ nhân công rất đông đảo, luôn cả tù nhân bị làm việc khổ sai,  công việc đóng một chiến thuyền, xử dụng gỗ của hơn 2.000 (hai ngàn) cây sồi (chêne),  chỉ  xảy ra trong một thời gian gấp rút là 11 tháng.

Từ năm 1666 đến 1926 cảng Rochefort đã đóng khoảng 500 chiến thuyền mới. Năm 1779  l‘Hermione được chỉ huy bởi thuyền trưởng  Louis-René Vassor de la Touche.

Chiến thuyền L‘Hermione đi vào lịch sử hàng hải vì đã đem Gilbert du Motier, được người  đời biết đến qua cái tên Hầu tước La Fayette (marquis de La Fayette, sinh ngày 06.9.1757  tại Chavaniac, qua đời ngày 20.05.1834 tại Paris) trở lại châu Mỹ vào năm 1780 để giúp đại  tướng Washington đánh quân Anh dành lại độc lập, dưới thời vua Louis XVI.  4)

Chiến thuyền Hermione được xây dựng trong một hào cạn, gồm có ba tẩng. Photo: MTT

Trước đó, từ năm 1977 cho đến 1779 La Fayette tự nguyện chiến đấu trong hàng ngũ của Washington. Năm 1779, lúc ông chỉ mới có 22 tuổi, La Fayette trở về Pháp để thuyết phục  vua  Louis XVI trợ giúp quân sự cho Washington.

Được sự đồng ý của vua Louis XVI, hầu tước La Fayette, mới có 22 tuổi, lên chiến thuyền  L‘Hermione vào ngày 21.03.1780 vượt Đại Tây Dương trở lại Mỹ. La Fayette cập bến Boston  sau 38 ngày lênh đênh trên biển, rồi cùng với đạo quân của hai tướng Pháp lừng danh  Rochambeau và de Grasse, chỉ huy trận đánh chiếm Virginia.

Quân Anh đầu hàng tại Yorktown vào năm 1781. La Fayette trở về Pháp trong vinh quang,  ông được Washington trọng thưởng, dân da trắng châu Mỹ mang ơn, và vua Louis XVI  hậu  đãi. Tuy nhiên chiến phí của nước Pháp để giúp Washington lên đến 2 tỷ quan tiền  vàng  thời ấy, đưa đến bất mãn trong dân chúng Pháp vì sưu cao thuế nặng, một trong  những  tiền đề cho cuộc Cách mạng dân chủ Pháp  năm 1789.

Chiến thuyền Hernione được đóng hoàn toàn bằng gỗ sồi. Photo: MTT

Cùng thời này, ở Việt Nam, theo tác giả Nguyễn Thanh Lợi, dân ta ở miền Trung thường  đóng ghe bầu, cột buồm chính có cái cao 9 mét (22 thước ta), sức trọng tải trung bình từ 2  đến 14 tấn, riêng ghe bầu Mũi Né dài 30 mét, ngang khoảng 6 mét, sâu 4 mét, tải trọng  120  tấn.  Ông cho độc giả biết là: 5)

Trong lực lượng thủy quân của Nguyễn Ánh, có hẳn một loại thủy binh ghe bầu với 1.600  quân,  đây là lực lượng vận tải quân lương của chúa.

Theo biên niên nhà Nguyễn, từ 1778 đến 1819, Nguyễn Ánh đã đóng 235 ghe bầu (kiểu prau) ,460 sai thuyền (thuyền chèo loại lớn hơn), 490 chiến thuyền (thuyền buôn nhỏ không mui),  77 đại chiến thuyền, 60 thuyền lớn nhỏ kiểu phương Tây hay thuyền buồm dọc, 100 ô thuyền (thuyền sơn đen) và 60 lê thuyền (thuyền chạm vẽ trên cả đầu và đuôi)  trong tổng số 1.482  chiếc. ) „

Chứng tỏ rằng các chúa Nguyễn biết đường biển là con đường sống còn của đất nước, dân  tộc, và lịch sử cũng đã cho thấy, tất cả các trận tấn công đánh chiếm của quân Pháp tại  Việt  Nam đều do  đường biển, do lực lượng hải quân Pháp thực hiện.

Lạy Trời cho cả gió nồm

Cho thuyền chúa Nguyễn căng buồm ra khơi.

Từ năm 1997 một hội tư nhân mang tên Hermione-La Fayette, trong mục đích tưởng  nhớ công trạng của La Fayette cũng như nhắc nhở sự hy sinh của triều đình vua  Louis XVI  để giúp Hoa Kỳ dành độc lập, đã tiến hành dự án góp công góp của để đóng lại  chiến thuyền  L‘Hermione  theo y như mẫu cũ tại cảng Rochefort.

Vương hiệu trang trí trên tàu Hermione

Chiến thuyền L‘Hermione nguyên thủy, được mang danh hiệu Frégate de la Liberté  (Chiến thuyền Tự Do), đã bị chìm ngày 20.09.1792 tại vùng biển Croisic phía nam  Bretagne  nước Pháp.

Dự án và công việc đóng thuyền mới kéo dài từ năm 1997 đến ngày 7 tháng 7 năm 2014  mới được hạ thủy ra biển lần thứ nhất, trễ hai năm  so với dự tính. Hội Hermione-La Fayette tận dụng nhiều phương cách thương mại để gom tiền đóng thuyền như thâu  phí  tham quan nơi đóng thuyền, bán các sản phẩm như quần áo mang tên Hermione, sách vở, quà lưu niệm, thâu phí hội viên (25€/người/năm), bán một chữ ký trên cánh buồm 10€…, đến năm  2011  đã có hơn 250.000  người đến thăm công xưởng Hermione.

Tôi đến tận nơi, cảng Rochefort bên bờ biển Đại Tây Dương để thăm công việc đóng chiến thuyền Hermione theo mẫu xưa. Chương trình tham quan đặc biệt cho vào tận lòng  thuyền để xem xét, trong lúc các thợ đang làm việc. Thuyền có ba tầng, lúc tôi đến thì còn  thấy cả vỏ thuyền, chưa có khép đáy, đáy thuyền là một công trình nghệ thuật bằng gỗ  đẹp  tuyệt diệu .

Biếm họa dí dỏm gà và vịt là đầu bếp trên chiến thuyền ngày xưa, dễ di chuyển, dễ nuôi và dễ ăn thịt. Photo: MTT

Điều thú vị là trên thuyền, mọi người đều phải giăng võng nằm ngủ trong tầng dưới boong thuyền, chỉ có hai sĩ quan chỉ huy và một thượng khách là có « phòng riêng » ở phần phía sau thuyền. Gọi là « phòng riêng » nhưng thật ra đó chỉ là một cái giường rất hẹp,  rộng  bằng chiều ngang của một người, có cửa đóng kín như một cái hộp gỗ. Nhà vệ sinh cho  mọi người nằm ngay ở mũi thuyền, còn cho sĩ quan chỉ huy thì ở mạn thuyền phía sau,  thật ra chỉ là một cái lỗ mà bên dưới là mặt biển. Trên boong thuyền phía sau, đúng như  mẫu cũ, là một cái  chuồng gà nuôi gà đẻ lấy trứng. Chỉ có sĩ quan chỉ huy mới được  ăn trứng gà và thịt gà tươi.

Chiến thuyền trôi nổi theo sóng biển, nhồi lên nhồi xuống, lại còn phải nằm võng đong  đưa, thì người đi thuyền phải có sức chịu đựng rất lớn.  Thuyền Hermione mới còn có gắn hai máy thuyền theo yêu cầu bảo đảm an toàn hiện đại.

Công xưởng la Corderie Royale đã được tu sửa lại rất đẹp, hoành tráng, tại đây, khách tham  quan sẽ được xem biểu diễn cách làm dây thừng, làm buồm, may buồm… cho tàu thuyền.  Nghệ nhân biểu diễn xe giây thừng có cả những bà cụ tám mươi tuổi, đã học và lao động  theo lề lối truyền thống  xưa.

Hội Hermione-La Fayette dự tính sẽ tổ chức một chuyến vượt biển Đại Tây Dương như  xưa với thuyền Hermione sau khi hạ thủy, thủy thủ đoàn sẽ là người của Hải quân Pháp, còn người tham dự thì sẽ được bốc thăm vì có quá nhiều ghi danh.  Tuy không thể so sánh hai công việc đóng cùng một mẫu thuyền với nhau, vì điều kiện  thực  hiện quá khác biệt, nhưng thí dụ này cho thấy rằng, ngành kỹ thuật đóng thuyền  vào thế kỷ thứ mười tám tại Pháp đã phát triển rất mạnh. Họ làm việc nhanh chóng  dù là mọi công việc  đều bằng tay chân, thủ công, vì ngoài sự xử dụng công  sức của thợ các ngành nghề chuyên môn, họ sử dụng tù nhân trong những công việc phục dịch  rất nặng nề, không những không được trả công, mà tù nhân lao dịch đuối sức chết thì bỏ, thay thế bằng tù  nhân khác.  Mỗi khi hạ thủy thuyền xuống nước họ dùng tù nhân để làm vật cản dưới  đáy   thuyền, khi cắt dây thả thuyền, chiến thuyền nặng cả ngàn tấn tuột trong nháy mắt  xuống  nước đè chết dí những người tù nhân dùng làm vật cản ngay tại chỗ, không một ai  tiếc thương.

Nhà ga xe lửa cảng biển Rochefort. Photo: MTT

Ngày 18 tháng 4 năm 2015 chiếc Hermione lên đường viếng thăm nước Mỹ, đi lại chặng  đường lịch sử của hầu tước La Fayette và trở về bến chính Rochefort hơn 5 tháng sau, ngày 29.08.2015.

Năm 2018 Hermione đã đi một hành trình ngắn trong vùng biển Đại Tây Dương và Địa  Trung Hải.

Ước mơ của những người tích cực trong hội Hermione-La Fayette đã thành sự thật sau 17 năm kiên trì, còn  mình thì mơ ước phải chi mình đóng lại được một  chiếc chiến thuyền của chúa Nguyễn.

MTT, kỷ niệm ngày 11.11.2011, bổ xung 7.10.2018

 

Chiến thuyền Hermione được tiếp đón và hộ tống bởi chiến hạm USS-Mitscher khi vừa đến bên kia bờ Đại Tây Dương nước Mỹ

Chú thích :

* Trích Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, chương I, xuất bản tại Pháp, 2010

1) Vua Ferdinand và nữ hoàng Isabella của Tây Ban Nha đồng ý cung cấp điều kiện cho  Christoph Columbus (1451-1526) lên đường đi tìm Ấn Độ. Ngày 12 tháng 10 năm 1492 đoàn  thuyền của Columbus cập bờ biển một hòn đảo mang tên Guanahani, hiện nay thuộc Bahama, tiếp theo đó  Columbus khám phá ra Cuba và Hispaniola  (ngày nay là Haiti và Republique Dominique)  thuộc châu Mỹ, nhưng cho đến ngày cuối cùng củacuộc đời, Columbus vẫn tin chắc rằng đã  đến châu Á, cũng không ngờ rằng, cùng với sự khám phá châu Mỹ của ông, một thời đại mới  đã được mở ra, thời đại của chính sách đế quốc thuộc địa, mà các nhà sử học cho rằng, thời  đại này mới được chấm dứt bởi trận Đại chiến thứ hai năm 1945, cách chúng ta không lâu.  Cuối cùng, châu Mỹ – America – mang tên của Amerigo Vespucci (1454-1512), một thương  nhân người Ý đại lợi (Florence) đã viết một bài cho rằng vùng đất mới thám hiểm ra ấy là  một lục địa riêng biệt. Tên America được hainhà thiên văn học người Đức tên là Martin  Waldseemüller và Matthias Ringmann đặt ra khi vẽ bản đồ thế giới năm 1507.

2) Năm 1518 Ferdinand Magellan (Bồ Đào Nha) nhất định lên đường tìm cho ra hòn đảo có  đinh hương, một loại gia vị quý hơn vàng ngọc châu báu. Sau hơn một năm lênh đênh trên  biển,cùng với đoàn thuyền năm chiếc Magellan đi dọc vùng biển châu Mỹ la tinh xuống tận  mũi phía nam vào ngày 28.11.1520. Nhưng cũng nhưtrường hợp của Columbus, vì một sự  nhầm lẫn trong cách tính đường đi, Magellan tình cờ lọt vào vùng biển Thái bình dương, đặt  chân lên  vùng quần đảoPhi luật tân, nơi ông muốn đến.  Đoàn thuyền năm chiếc của Ferdinand Magellan mang tên Trinidad, San Antonio, Concepción, Victoria và  Santiago lúc khởi hành đem theo rất nhiều lương thựcdự trữ: hơn 10 tấn bánh mì khô, gần 6  tấn thịt muối, 200 thùng cá mòi, 984 bánh phómát, 253thùng rượu, hành, tỏi, bột, đậu khô  các loại và gạo, vũ khí: 50 cây súng, 1.000 cây dáo, 200 cây dùi, và hàng hóa để trao đổi lấy  đinh hương: 20.000 giây và chuông nhỏ, 900 tấm gương nhỏ, 5.000con dao, kéo, đồ trang  sức phụ nữ bằng đồng và 40 bao tải đựng hạt thủy tinh  tròn. Tuy thế, khi  chưa đến được bờ biển Phi luật tân, cạn lương thực, mọi người phải ăn mọt gỗ và chuột trên thuyền để sống sót.

3) Chúa Nguyễn Phúc Thuần, xưng là Định Vương, miếu hiệu là Duệ Tông, chỉ thọ có 24 tuổi  (1754-1777), là con của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát và công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Cầu, bị quân nhà Tây Sơn bắt và giết chết. 

4) Vua Louis XVI, 1754-1793, lên ngôi năm 1774 lúc hai mươi tuổi, bị chặt đầu bởi Cách mạng dân chủ Pháp tại quảng trường La Concorde,Paris, vào ngày21.01.1793, trị vì được mười tám  năm.

5) Trích Nguyễn Thanh Lợi, Ghe bầu miền Trung, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển – Sở Công  nghệ Thừa Thiên-Huế số 2(67)/2008 

Commentaires fermés