Aller au contenu principal

Phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 – 1918 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

31. octobre 2018

Phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất 1914 – 1918 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2018

Sách báo « Phụ nữ và chiến tranh » dạy mẫu đan , móc áo cho chiến sĩ.

Đại chiến thế giới lần thứ nhất kéo dài từ năm 1914 cho đến năm 1918 được chấm dứt trên những chiến trường chính là một đề tài còn đang được những thế hệ « già » 80, 70 đến 60 tuổi đặc biệt quan tâm vì họ còn nhở lại ít nhiều kỷ niệm của thế hệ ông bà trong gia đình. Năm nay 2018 là năm kỷ niệm 100 năm chấm dứt của trận đại chiến khốc liệt này. Sự tổn thất về nhân mạng và tài sản cho dân chúng là rất lớn. Xin nhắc lại ở đây một câu nói của Tôn Tử « « Chiến tranh không phài là mục tiêu chính ngoại trừ bắt buộc phải dùng đến nếu không còn giải pháp nào khác » để tránh làm tổn hại nhân mạng và tài sản mà dân chúng phải mang gánh nặng.

Nhưng trận đại chiến đã làm cho 10 triệu quân lính thiệt mạng và 20 triệu quân lính bị thương, sự hy sinh của dân chúng cũng không thua kém : 7 triệu thường dân chết trong đại chiến. Những con số nói trên chỉ là khoảng chừng vì chính xác thì không có thống kê nào đúc kết được hết sự thiệt hại của nhiều quốc gia.

REUTERS/Benoit Tessier
Biểu tượng của Đại chiến thế giới thứ nhất là đóa hoa đồng nội mầu xanh Bleuets, một đóa hoa đã đứng vững trong bom đạn như hoa dại Coquelicots mầu đỏ trở thành biểu tượng của Đại chiến thế giới thứ hai 1939-1945.

Các quốc gia tham chiến chia làm 2 phe : phe Hiệp ước gồm có Anh, Pháp, Nga, kéo theo Ý, Serbia, Bỉ, Romania, Nhật Bản, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Hoa Kỳ và Bresil và phe Liên Minh gồm có Đức, Áo-Hung, Bulgarie và Ottoman, được hỗ trợ bởi Tây Ban Nha và nhiều nước khác gây một tình trạng tràn lan khắp thế giới. Ngòi nổ gây ra đại chiến là sự kiện Đại công tước Franz-Ferdinand và vợ của nước Áo-Hung bị một người Serbia tên là Gravrilo Princip ám sát chết ngày 28.6.1914 tại Sarajevo. Một tháng sau, Áo-Hung tuyên chiến với Serbia.

Lời kêu gọi sức đóng góp của phụ nữ Pháp trong Đại chiến thế giới thứ nhất

Trong đại chiến này nước Pháp kiệt sức, trong khi Đức ra khỏi chiến tranh không mấy khó khăn, nhiều gia đình dân sự không được đền bù thỏa đáng dẫn theo một tâm lý thù hận Pháp-Đức lâu dài. Hai trận đánh khốc liệt nhất ở Verdun và thung lũng sông Somme trải qua bao năm tháng hằn sâu vào lịch sử và trí nhớ của dân chúng ở các vùng này, nhiều dấu vết tàn phá từ thời đại chiến thứ nhất vẫn còn đó.

Mới 22 năm sau, Đức lại tấn công Pháp một lần nữa năm 1940 trong trận đại chiến thế giới lần thứ hai 1939-1945, và vởi sự chiếm đóng nước Pháp trong thời gian từ tháng 6 năm 1940 đến cuối năm 1944 nước Đức đã đào sâu thêm mối hận thù nhục nhã và gây ra nhiều tổn thất nặng nề không ngóc đầu lên được cho Pháp.

Khi mọi đàn ông ra trận, cái chết cầm chắc trong tay, nhiều người ngã xuống ngay từ những viên đạn đầu tiên trên chiến trường, thì những người vợ, người mẹ, người chị, người em phải gánh vác việc nhà và việc nước.

Phụ nữ Pháp ở vùng Oise phải kéo cày thay ngựa, tất cả ngựa bị tịch thu phục vụ cho chiến tranh. Hình chụp năm 1917 của Văn khố ECPAD

Ở Pháp, vào thời điểm bắt đầu đại chiến thứ nhất, vào cuối hè là mùa gặt ở nhà quê. Tháng 8 năm 1914, 3.700.000 đàn ông ra chiến trường, đa số là nhà nông. Phụ nữ ở nông thôn phải thay thế những người đàn ông tổ chức mùa gặt với một lực lượng nhân công yếu kém hẳn, cha mẹ già và những con những cháu nhỏ trong năm 1914 với những khó khăn về dụng cụ đồng áng, máy móc quá khổ người của họ và cả những năm sau đó, nếu họ không vì chiến tranh đồng ruộng, nhà cửa bị bắn phá tan nát, phải bỏ ruộng đi di tản nơi khác.

Thành phần phụ nữ trưởng giả của thành phố, biết băng bó một vết thương sạch sẽ trên một con búp bê, thì được điều động vào làm y tá, con số này lên đến gần 100.000 người, trong đó 70% là thiện nguyện cho Hội Chữ thập đỏ.

Trong thời gian đầu mọi người đều tưởng là cuộc chiến sẽ kéo dài vài tháng, nhưng đến năm 1915 thì sự thiếu hụt cả đàn ông trong những phân xưởng sản xuất vũ khí khiến cho phụ nữ phải được thâu nhập thay thế.

Phụ nữ trong công xưởng chế tạo vũ khí thời Đại chiến thứ nhất

Dù vậy, lương của người phụ nữ trong giây chuyền sản xuất kỹ nghệ vũ khí thấp 40% so với lương của đàn ông và họ bị coi thường. Những ngành nghề trước đây chỉ dành cho đàn ông cũng phải được phụ nữ gánh vác như tài xế lái xe điện, tài xế taxi, phát thư, dạy học, thư ký xã trưởng…

Trong tất cả công xưởng chế tạo vũ khí, nhà máy, bệnh viện, cứu cấp, nhà ga, hệ thống hành chánh, chỉ huy chiến dịch…đến cả làm gián điệp đâu đâu cũng thấy phụ nữ được điều động tham gia đông đảo.

Phụ nữ Pháp mở nhiều chiến dịch trong thời gian đại chiến, những phong trào như « đan áo cho chiến sĩ », « đỡ đầu cho chiến sĩ » được mở ra vừa để củng cố tinh thần vừa để giúp đỡ vật chất cho tiền tuyến. Nhiều phụ nữ đã kết hôn với người mình « đỡ đầu ».

Phụ nữ Pháp cũng là nạn nhân trực tiếp của chiến cuộc, chịu đựng những cuộc hãm hiếp, cướp của, nhà cháy, bị đi đày phát vãng…Chiến tranh cũng đồng nghĩa với bệnh tật, đói, thiếu thốn tất cả mọi thứ vật chất cơ bản cần thiết để sống sót, nhiều phụ nữ Pháp chịu đựng hy sinh âm thầm cho chồng, con và gia đình.

Sau đại chiến, đáng lẽ phụ nữ phải trở về bếp núc nội trợ trong gia đình trả lại công ăn việc làm cho nam giới thì những chiến binh trở về từ chiến trường với sự mệt mỏi, bệnh tật…khiến cho nhiều phụ nữ tiếp tục công việc làm của họ, dù rằng họ góa chồng, dù rằng họ là con mồ côi vì chiến tranh.

Trước đây, phụ nữ ở Pháp cũng chịu nhiều điều kiện thiệt thòi trong giáo dục. Từ thời Trung cổ con gái nhà nông chỉ được mẹ dạy dỗ làm các công việc đồng áng, việc nhà, chăn bò, chăn cừu, làm ruộng, không được học chữ. Con gái nhà trưởng giả thì học với mẹ hay được dạy dỗ trong các nhà dòng của các sơ. Con nhà quý tộc thì được học với thầy dậy riêng hay theo học trong các tu viện, ngoài việc học chữ, kiến thức, còn được học âm nhạc và học những khái niệm y khoa.

Sang thời Phục hưng thì phụ nữ được học chủ yếu là học đạo Thiên chúa, và tùy theo xuất thân gia đình, con nhà nghèo được học viết, học đọc, học đạo. Xã hội Pháp bấy giờ phân chia giáo dục và phân biệt đối xử theo giới tính nam hay nữ, xuất thân dòng dõi, giầu nghèo.

Marie Curie 1920, 53 tuổi

Trong những điều kiện xã hội đó, phải thấy bà Marie Sklodowska-Curie (1867-1934) là một nhân vật xuất chúng, hiếm có. Năm 1914, lúc đại chiến thế giới bùng nổ, thì bà đã là một nhà nữ khoa học nổi tiếng khắp thế giới rất được ngưỡng mộ. Bà đoạt giải Nobel hai lần, lần thứ nhất bà đoạt giải Nobel vật lý năm 1903 cùng với chồng là Pierre Curie và Henri Becquerel, lần thứ hai bà đoạt giải Nobel hóa học năm 1911 một mình về những công việc khám phá của bà về polonium và radium, vài năm trước đại chiến.

Kể từ khi đại chiến xẩy ra, bà đã tích cực đóng góp, biết rằng quang tuyến X rất cần thiết để rọi những vết thương, những mảnh đạn gắm vào thân thể. Từ tháng tám năm 1914 bà đã được giấy chứng nhận của Bộ trưởng bộ chiến tranh để thành lập một đội ngũ những người có khả năng rọi quang tuyến X.

Bà Marie Curie dạy cho hơn 150 học trò những khả năng căn bản về quang tuyến, vật lý và cơ thể học. Bà biết rằng không nên di chuyển những nạn nhân, thời đó còn thô sơ, cáng tay, nên thành lập những đội xe quang tuyến X lưu động tại chỗ, và mở đầu cho ngành y học « radio-chirurgie ». Bà Marie Curie đi tham sát ngay tại trận tuyến với con gái bà là Irène Curie. Sau đại chiến, năm 1918 bà nhận chức vụ giám đốc Institut du radium, bây giờ là Institut Pierre et Marie Curie.

Nhờ vào công sức của bà Marie Curie mà quang tuyến X trở nên hữu dụng trong ngành y khoa và cứu được nhiều mạng người trong đại chiến.

Ngôi nhà sinh trưởng của Marie Curie ở Varsovie

Có một trình độ học vấn cao cấp như thế vì Maria Salomea Sklodowska, tên khai sinh của Marie Curie, sinh ra ở Varsovie, xuất thân từ một gia đình quý tộc Ba Lan, cha của bà là giáo sư toán học và vật lý, mẹ của bà là thầy giáo. Mồ côi mẹ từ năm 11 tuổi, mẹ bà qua đời năm 1878 vì bệnh lao phổi, là bệnh rất phổ biến trong thế kỷ thứ 19. Mãi đến năm 1882 Robert Koch mới khám phá ra vi khuẩn bệnh lao phổi, từ đó mới có phương pháp điều trị. Hai bác sĩ Calmette và Guérin bào chế thuốc tiêm chủng BCG (Bacille de Calmette và Guérin) phòng ngừa bệnh lao phổi năm 1921, nhưng đến năm 1924 mới được đưa vào xử dụng rộng rãi trong dân chúng. Đến giờ bệnh lao phổi vẫn là một trong 10 bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của thế giới.

Maria Sklodowska tìm quên lãng nỗi đau mất mẹ trong học tập và học rất xuất xắc. Năm 1891 bà rời Varsovie đi Paris để tiếp tục học vấn. Thời ấy, trong con số ít ỏi 776 sinh viên đại học ngành khoa học, chỉ có 27 người là phụ nữ, trong số này chỉ có 7 người phụ nữ nước ngoài. Bà kết hôn với Pierre Curie năm 1895, lúc bà được 28 tuổi, khi ấy ông Pierre Curie là trưởng phân khoa vật lý tại trường Vật lý và hóa học kỹ nghệ (École municipale de physique et de chimie industrielles) và từ đó bà có quốc tịch Pháp.

Phụ nữ làm Mõ làng, trước đây là công việc của nam giới.

Marie Curie bị ung thư máu vì nhiễm phóng xạ từ những công việc nghiên cứu của mình từ năm 1898. Ngày 29.06.1934 Marie Curie vào bệnh viện ở Passy (Haute-Savoie) một vùng núi của Pháp, và qua đời tại đấy chỉ một tuần sau đó, ngày 04.7.1934, hưởng dương 66 tuổi.

Trải qua nhiều giai đoạn cải tổ và phát triển nền giáo dục cho nữ, đến năm 1924, sau đại chiến thứ nhất, đạo luật Léon Berard cho phép nữ sinh được quyền thi như nam sinh, tức là có một chương trình học ngang nhau, từ đó cái bằng Tú tài Pháp mới được mở ra cho nữ giới, nhưng vẫn học riêng trai, gái. Đến sau phong trào 1968 mới có trường học cho cả nam và nữ.

Tem kỷ niệm ngày phụ nữ Pháp được quyền đi bầu 1944 – Photo: MTT

Mãi đến ngày 21.04.1944 chính phủ De Gaulle mới ban sắc lệnh cho phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử. Ngày 29.4.1945 phụ nữ Pháp được tham gia bầu cử hành chánh lần đầu tiên.

Ở Việt Nam thì chủ tịch Hồ Chí Minh xác định ngày 3.9.1945 : « Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền bầu cử và ứng cử… » lần đầu tiên trong lịch sử cho phép phụ nữ quyền bình đẳng trong xã hội.

Nếu nói về bình đẳng, thì chiến tranh thế giới thứ nhất đã mở ra một con đường cho phụ nữ Pháp tham gia vào những hoạt động trước kia thuần túy nam giới, xác định và củng cố khả năng của mình trong xã hội. Nhưng khi chiến tranh chấm dứt thì phụ nữ Pháp bị đẩy lùi vào truyền thống gia đình cũ của mình, dù có tiến bộ hơn về bình diện giáo dục, cho đến khi đệ nhị thế chiến bộc phát.

Một bản đồ khu vực đông bắc nước Pháp và mức độ bị tàn phá bởi Đại chiến thứ nhất

Năm nay 2018 kỷ niệm 100 năm chấm dứt đại chiến thế giới lần thứ nhất 11.11.1918 – 11.11.2018, tại Pháp có nhiều sự kiện lớn nhỏ được tổ chức ở khắp nơi. Hai sự kiện trung tâm là lễ kỷ niệm ở khu rừng Compiègne của tổng thống Pháp và thủ tướng Đức, và lễ kỷ niệm với sự tham dự của đại diện 120 quốc gia tại Paris.

Nhiều văn khố, bảo tàng, trường học, triển lãm, nghĩa trang…và 14 vùng bị tàn phá nhiều nhất tại Pháp trong đệ nhất thế chiến là vùng sông Oise, vùng Pas-de-Calais, vùng thung lũng sông Somme, vùng miền Bắc, vùng sông Aisne, vùng Ardennes, vùng sông Marne, vùng Moselle, vùng sông Meuse, vùng thượng lưu sông Rhin, vùng Meurthe và vùng Les Vosges…đều có những hoạt động kỷ niệm, trong đó chủ đề phụ nữ cũng được đề cập đến một cách khiêm nhường. MTT

Xin mời đọc thêm một số bài MTT đã viết:

  • Bài « Chiến thắng bí mật của Painvin » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Ký hiệu FR8VX của vua Duy Tân » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Vua Duy Tân, những ngày cuối cùng ở Paris » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Một toa tầu Hòa Bình và hai trận Đại chiến thế giới 1914-1918 và 1939-1945 » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr

  • Bài « Tưởng niệm 100 năm người lính Đông Dương 1914-2014 » ©Mathilde Tuyết Trần, www.mttuyet.fr 

Một gia đình nông dân Pháp phải di tản trong Đại chiến thứ nhất – Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Lính Đức tiến vào Maubeuge, một thành phố biên giới Pháp – Đức . Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Toa tầu dùng làm nơi ký kết hiệp ước đầu hàng của Đức tại khu rừng Compiègne, Pháp. Bị thua trận, do chính nước Đức gây ra, nước Đức lại đem lòng căm thù ngược đối với nước Pháp một cách gay gắt. Ảnh của Đức, Bundesarchiv.

Vua Đức Wilhelm II tại nhà ga trên đường đi Hòa Lan tỵ nạn, được Hoàng gia Hòa Lan che chở sau khi bại trận, ông sống ở Hòa Lan đến khi qua đời. Ảnh của Đức, Bundesarchiv

Commentaires fermés