Aller au contenu principal

Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) – Tại sao kênh đào Suez dẫn đến Sông Hồng?

25. janvier 2020

Jean Dupuis (Đồ Phổ Nghĩa) – Tại sao kênh đào Suez dẫn đến Sông Hồng? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2020

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Đồ Phổ Nghĩa là một cái tên mấu chốt của các sự kiện đã đưa đến việc quân Pháp tấn công miền Bắc lần thứ nhất Thật tình mà nói, tôi không chú ý lắm về giai đoạn xa xưa này, cũng như về bản thân nhân vật chính Đồ Phổ Nghĩa. Nhưng, trên đường tham khảo các tài liệu lịch sử lưu trữ tại Pháp, tôi lại có cái duyên vấp phải một số tài liệu liên quan đến giai đoạn lịch sử này, về nhân vật mang tên „Đồ Phổ Nghĩa“, tên phiên âm Hán Việt từ tên chính thức của một người Pháp là Jean Dupuis.

Nhân tôi thấy các tài liệu gốc cung cấp các thông tin về những trang sử cũ của Việt Nam thời ấy và về Đồ Phổ Nghĩa một cách khá rõ ràng, toàn diện, nên dù không có chủ đích về chủ đề trên, tôi mạnh dạn tổng hợp và trình bày các thông tin thu thập được làm tư liệu cho những bạn đọc có quan tâm tham khảo. Tôi sẽ mạn phép ngưng sử dụng cái tên phiên âm Hán Việt Đồ Phổ Nghĩa ngay từ đây, để không làm lạc hướng về ấn tượng cũng như sự đánh giá của bạn đọc đối với nhân vật chính.

Jean Dupuis sinh ngày 08.12.1829 tại làng Saint-Just-la-Pendue, gần Roanne, thuộc vùng thung lũng sông Loire, vùng hành chánh Rhône-Alpes, miền Đông Nam nước Pháp, gần về phía nước Thụy Sĩ, là con của ông Étienne Dupuis và bà Geneviève Labouré de Beaudinat.

Làng Saint-Just-la-Pendue, hiện nay đã lên cấp thành phố (Ville de Saint-Just-la-Pendue) vẫn còn là một địa điểm có tầm cỡ trung bình, dân số theo thống kê sau cùng của năm 2016 chỉ có 1.650 dân, sống rải rác trên một diện tích là 19,88 km², chỉ số  thất nghiệp trong làng là 8,4%, và đa số dân làng là người già về hưu trí (chiếm 36,6% năm 1999). 1) Làng được xây dựng trên một triền núi cổ, có độ cao từ 428 mét đến 637 mét trên mặt biển, xưa kia vào thế kỷ 17, 18 có truyền thống làm nghề dệt lụa.

Cha mẹ của Jean Dupuis là đại phú nông, sống một cuộc đời nhàn hạ sung túc, nên họ mong muốn đứa con trai duy nhất sẽ nối nghiệp nhà nông và cũng tiếp tục một đời sống như họ. Nhưng Jean Dupuis đã mơ mộng từ thưở còn nhỏ, là sẽ thoát ra khỏi vòng tay quá chặt của gia đình, làng xóm, đi đến những chân trời xa, tự do bay nhảy như  trong những cuốn sách về địa lý và những sách viết về những công cuộc thám hiểm,  chinh phục những miền đất lạ, người lạ, mà Jean Dupuis đã được đọc. Nhưng chưa  bao giờ Jean Dupuis dám thố lộ với ai về những mơ mộng của mình, sợ làm thất vọng cha mẹ và cũng sợ sẽ bị cản trở thực hiện giấc mơ.

Jean Dupuis theo học trường College de Tarare cho đến năm 18 tuổi, khoảng năm  1847. Thời ấy, theo luật lệ thì con trai phải vào lính, theo một phương cách tuyển lính đặc biệt: bốc số tình cờ. Những gia đình giầu có, khi con trai bị bốc số gọi nhập ngũ,  thì họ có quyền „mua“ một người nhà nghèo nhập ngũ thay cho con họ. Cha mẹ  Dupuis đã tính sẵn „phương án“ này để giữ con trai lại nhà. Nhưng Dupuis lại chí  tâm muốn vào lính để có cơ hội thoát ra khỏi gia đình, mơ ước đi đến Algerie hay  một thuộc địa xa xôi nào đó của Pháp. 

Không được vào lính, Dupuis làm quen với một thương nhân có tuổi, chuyên buôn  bán các mặt hàng vải vóc và hàng thêu ở Saint-Just. Chỉ có nghề thương nhân là nghề hay đi buôn bán nhiều nơi, năng động. Dupuis xin đi theo người thương nhân ấy để  thoát ra khỏi gia đình và ngôi làng trên núi, đi đến những thành phố, thị trấn lớn hơn của miền Nam nước Pháp như Aix en Provence, Marseille, rồi học dần các ngón nghề buôn bán, ép giá mua, định giá bán, biết chỗ mua, chỗ bán…Khi đã học đủ kinh  nghiệm nghề nghiệp rồi thì Dupuis tách ra, trở thành thương nhân, tự mua tự bán các mặt hàng với một số vốn của chính mình. Đó là vào khoảng năm 1858. Dupuis được 29 tuổi.

Trong thời gian đó, Ferdinand de Lesseps đang bắt đầu tiến hành một công trình vĩ  đại, thực hiện kênh đào Suez làm đường ra biển, nối từ biển Địa Trung Hải ra tới  Biển Đỏ (Vịnh Suez). Trước đó, đã có nhiều dự án nghiên cứu xây dựng kênh đào,  nhưng không một công ty nào đi vào thực hiện được. 

Nhờ kết thân bạn bè với Muhammad Said Pascha, Phó vương Ai Cập, Ferdinand de  Lesseps được trao quyền thực hiện và thành lập công ty Compagnie universelle du  canal maritime de Suez, với quyền sử dụng là 99 năm. 

Các áp lực và cản trở từ phía Anh quốc không làm cho de Lesseps mất tinh thần. Công ty thực hiện kênh đào được thành lập với số vốn khởi đầu là 200 triệu quan  Pháp, 56% do các nhà đầu tư Pháp góp vốn, 44% là vốn của Phó vương Ai Cập Muhammad Said, nên tên của ông đã được đặt cho cảng vào kênh ở đầu Bắc: Port Said. 

Công việc thực hiện kênh đào được mở đầu long trọng vào ngày 25.04.1859. Khi  Muhammad Said Pascha qua đời, Anh quốc nhân cơ hội gây áp lực để chặn đứng sự  thực hiện tiếp tục của kênh đào. 

Mãi đến năm 1866, nhờ vào sự can thiệp của Napoleon III, de Lesseps chính thức  nhận được quyền thực hiện kênh đào vào ngày 19.03.1866. Tổng cộng có khoảng 1,5 triệu nhân công, đa số là người Ai Cập lao động thực hiện kênh đào. Năm 1865  trong mùa hè vào tháng sáu bẩy có bệnh dịch tả khiến cho nhiều người chết, hay bỏ  cơ sở chạy trốn. Kênh đào Suez được long trọng khai trương vào ngày 17.11.1869, với một phí tổn  cao hơn dự tính, tổng cộng là 426 triệu quan Pháp (tính đến năm 1871).  

Kênh đào Suez có một chiều dài tổng cộng là 162,25 cây số, chiều sâu là 24 mét,  chiều rộng là 345 mét trên mặt nước, 215 mét dưới đáy ở đầu kênh Bắc, 280 mét trên mặt nước và 195 mét ở đầu kênh Nam. Tàu thuyền di chuyển trên kênh chỉ được đi  từng chiếc một, nên có 3 chỗ trú ẩn, chờ đợi. Ở đầu kênh Bắc có hai cửa vào kênh ở  Port Said và Eastern Entrance. Ở đầu kênh Nam thì cửa ra nằm ở Port Taufiq, ngay bên cạnh cảng Suez. Đi hết kênh đào là cần từ 12 đến 16 tiếng. 2)

Tại sao công việc đào kênh Suez lại có liên quan đến „Đồ Phổ Nghĩa“ tức Jean  Dupuis và vận mạng của nước Việt Nam ? 

Trong công việc buôn bán, Jean Dupuis tiếp xúc với nhiều thương nhân bè bạn, nghe nói đến sự xây dựng kênh đào Suez sẽ mở ra một cơ hội thông thương với nhiều  nguồn lợi hấp dẫn. Một cơ hội mới của thế kỷ. Dupuis bèn lén gia đình, xin sổ thông hành xuất ngoại. Rồi giả vờ chỉ đi Marseille buôn bán, lên tàu đi Ai Cập. 

Khi đến Ai Cập rồi, định cư tại Alexandrie, Dupuis mới báo tin cho gia đình hay biết. Tại đây, công việc buôn bán của Dupuis phát triển rất tốt đẹp…cho đến năm 1859,  khi công việc thực hiện kênh đào bị đình chỉ, và chưa ai biết kết quả dự án sẽ ra sao, khi nào thì sẽ được tiếp tục. 

Dupuis đã hiểu ít nhiều về tình tình thế giới của thời đại, dự tính sẽ lập ở Ai Cập một kho dự trữ và chuyển hàng từ châu Âu sang châu Á, cụ thể là buôn bán với Trung  Hoa và bán đảo „Indochinoise“ (Việt Nam). Phần đất được các nhà địa lý Pháp gọi là „Cochinchine“ thời ấy, vào đầu năm 1859, đã bị Phó đô đốc hải quân Rigault de Genouilly, theo lệnh của Napoleon III 3), tiến đánh, san thành Gia Định thành bình  địa.    

Những thông tin quý giá này, Dupuis thâu lượm được từ những thuyền  trưởng các tầu buôn, tàu chiến. Trong số đó, có một thuyền trưởng già, muốn trở về Pháp nghỉ hưu, khuyến khích và tư vấn cho Dupuis tiếp tục dự án, đồng thời đề nghị với Dupuis bán dùm một chuyến hàng do ông xuất vốn với mức lợi giao hẹn là 50% giá bán. 

Cả hai người đều thấy, dự tính tương lai là quân đội châu Âu sẽ cập bến chiếm đóng  các hải cảng châu Á, sẽ đem lại một giá trị vượt mức không thể tưởng tượng được cho việc bán các sản phẩm châu Âu tại đây.  Dupuis đồng ý cho ông bạn mới này  chuyển chuyến hàng của ông ấy đến Thượng Hải, trong dụng ý trộn lẫn hàng tốt với  lô hàng kém giá trị của mình. 

Dupuis lên đường, theo các tuyến đường của Anh, đến Trung Hoa. Tại đây, Dupuis ngạc nhiên và thích thú nhận thấy lời khuyên của người thuyền trưởng già là đúng.  Sản phẩm châu Âu đạt một mức giá vượt sức tưởng tượng, và khi chuyến hàng vừa  cặp bến, thì chỉ trong giây phút, Dupuis đã bán hoàn tất lô hàng kém giá trị của mình với giá gấp đôi, vốn mua chỉ có 30 ngàn quan.

Dupuis đứng trước một cơ hội quá tốt đẹp, vừa đi du lịch, vừa làm quen với miền  Viễn Đông, lại vừa làm giầu. Dupuis rất kiêu ngạo, cho rằng thương nhân, với hàng  hóa trong tay, có quyền đến bất cứ nơi nào họ muốn, chỉ vì người tiêu thụ cần hàng  và họ đem hàng hóa đến trao đổi kiếm lợi. 

Khi Pháp vừa ký kết hiệp ước với Bắc Kinh năm 1860 4) Dupuis cũng đến Bắc Kinh, rồi về lại Thượng Hải, định lên tàu trở về Ai Cập. Tại khách sạn Hotel Imperial ở  Thượng Hải, Dupuis làm quen với một người Pháp mang tên là Eugène Simon. 

Simon thuyết phục Dupuis bằng đủ mọi lý lẽ đừng trở về Ai Cập, công  việc đào kênh Suez vẫn còn bị đình chỉ, chưa tiếp tục, và một cơ hội ngàn năm một thưở đang mở ra trước mắt tại đây, tại Trung Hoa, một đất nước vẫn còn đang được bao phủ trong một lớp vỏ đầy bí ẩn. 

Đô đốc người Anh tên là Hopp sẽ làm một cuộc tham sát dòng sông Trường Giang 5) lên đến Hán Khẩu (Han-Keou) trong mục đích tìm ra ba cảng dùng làm thương cảng cho hàng hóa Âu châu theo như hiệp ước đã ký. 

Simon cho rằng gia nhập đoàn tham sát là rất có lợi vì an ninh cá nhân được bảo đảm. Dupuis đồng ý đi cùng với Simon, và cả hai được nhận lên một trong 13 chiến thuyền trong cuộc tham sát. Simon, dưới danh nghĩa đi nghiên cứu khoa học, thật ra là một gián điệp đi khảo sát và thu thập thông tin tại Trung Hoa. 

Dupuis và Simon gặp hai người Anh tên là Sarel và Blakeston, đến từ Ấn Độ, cũng nhân dịp đi theo đoàn của đô đốc Hopp, để tìm đường thông thương từ thuộc địa của Anh tại Ấn Độ với một thị trường Trung Hoa giầu có. 

Dupuis là người rất thông minh, quan sát giỏi, xông xáo, thâu thập nhiều kiến thức  mới lạ, thông hiểu lịch sử, đặc biệt đi đến đâu ông ghi chép mọi sự kiện tỉ mỉ đến đấy, xuất bản sách ngay để gây ảnh hưởng dư luận tại Pháp, đặc biệt trong giới thương  nhân tại Lyon, Bordeaux , Marseille để làm áp lực lên chính quyền, chăm chỉ học  tiếng Trung để giao tiếp với người Trung quốc, ăn mặc theo kiểu Trung quốc.

Nói về sông Hồng: sông Hồng, còn có nhiều tên gọi và những phụ lưu, chi lưu, chiều dài tổng cộng là 1.149 km, bắt nguồn từ rặng núi ở một độ cao là 1.776 mét trong địa phận tỉnh Vân Nam 6), Trung quốc, (còn được người Pháp gọi là Sông Cái hay Sông Côi), chảy vào địa phận Việt Nam ở xã A Mú Sung, tỉnh Lào Cai với tổng số chiều  dài trên đất Việt Nam là 510 km rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ, đoạn sông này thường được  sách sử Việt Nam gọi là sông Nhĩ Hà, hay Nhị Hà. Người Pháp gọi chung là Fleuve  Rouge (sông đỏ vì mầu phù sa) như người Anh gọi là Red River. 

Khoảng năm 1867, Jean Dupuis gặp Francis Garnier tại Hán Khẩu, cả hai đều nhận ra tầm quan trọng của việc chuyên chở trên sông Hồng. Khoảng năm 1872 Dupuis đã  thâm nhập vào miền Bắc và lưu trú bất hợp pháp tại Hà Nội, được sự ủng hộ của  giám mục Puginier. Đô đốc Dupré được triều đình Huế yêu cầu nhiều lần phải trục  xuất Dupuis ra khỏi Hà Nội, nơi mà hắn ta đang ở từ mười một tháng nay và hắn từ  chối phải rời bỏ “faire partir M. Dupuis de cette ville, òu il s´est établi, il y a onze  mois et qu’il refuse de quitter…” 7) 

Dupuis ương ngạnh muốn được thông thương trên toàn bộ chiều dài sông Hồng trên  đất Việt, để có thể ngược xuôi từ Vân Nam đến vịnh Bắc Bộ và biển Đông, ỷ vào sự hỗ trợ của người Trung quốc, để buôn bán vũ khí và quặng mỏ, vận chuyển người.  Hắn ta thúc dục Soái phủ Nam Kỳ hành động, đòi chính phủ Pháp phải can thiệp vào Bắc kỳ, cũng như không ngần ngại dùng vũ lực, vũ khí và quân lính riêng tư để tự  bảo vệ và chống đối lại. 

Triều đình nhà Nguyễn, trước sự khiêu khích của Jean Dupuis và những hành động  xâm phạm lãnh thổ, chủ quyền của tên lái buôn “quỷ quyệt” (theo lời Philastre, rất  giận dữ với Jean Dupuis, sau cái chết của Francis Garnier) cương quyết đòi đô đốc  Nam Kỳ trục xuất Jean Dupuis ra khỏi Hà Nội, là điều kiện để thương thuyết tiếp tục. Hãy xem Dupuis lập luận về lý do dẫn đến việc quân Pháp tấn công miền Bắc lần thứ nhất qua chính ngòi bút của ông ta qua tác phẩm “Le Tong-Kin et l’Intervention  française “ xuất bản năm 1898, trang 14-16 ff …:

Thực ra trong thời gian ấy tôi là đại diện của các quan ở Vân Nam 7), và hơn một  lần nữa tôi được tỉnh Kouang-si cấp cho tôi binh lính để bảo đảm cho sự qua lại tự do của tôi trên sông đỏ. Ngoài ra, nếu không có những đội binh ấy, tôi đã ngược  dòng sông một cách vô tôi vạ hai lần, với những đoàn quân của nhà cầm quyền Yûn-Nân. Tôi đã thành lập ở gần một cái vịnh nhỏ một căn cứ gồm hơn 100 người, chính giữa rừng, và, ngay sau đó những người bản xứ đã bắt đầu xây dựng nhà ở của họ  dưới sự che chở của căn cứ. Những người Cờ Vàng chịu thuần phục tôi; những  người Cờ Đen thì tỏ ra ngần ngừ và ngại ngùng. Và, trên đất này, một người hậu duệ mới của nhà Lê đã đề nghị tôi để làm nổi dậy và lật đổ chính quyền không được lòng dân và tiếm vị của những quan lại an-nam-mít (Một thời gian ngắn trước đó, nhà Lê đã cho chuyển đến một thỉnh nguyện thư yêu cầu một người Pháp, ông de  Champeaux, đứng về phía của họ. Cùng lúc, họ còn khẩn thiết xin Đô đốc cho họ 20 khẩu cà nông, 10.000 súng bắn và một chiến thuyền hơi nước. Sự việc rất dễ dàng,  một khi đã biết tinh thần của dân chúng và sự chính đáng của những đòi hỏi của họ.Chúng ta đừng quên, ở Tông-Kin, một cuộc cách mạng luôn luôn sẵn sàng: những  người có địa vị phẩm chức, những gia đình cổ mong muốn tái lập lại nhà Lê trên  toàn quốc. Những gia đình cổ ấy nuôi dưỡng bằng những đóng góp bí mật những  nhóm người rút lui vào rừng núi và luôn giữ được sự độc lập của họ . Trên thực tế,  nhà cầm quyền an-nam-mít bị giới hạn ở các vùng phẳng và vùng đồng bằng. Trong số những người trong rừng núi, có cả những hoàng tử, và ngay cả một người cháu  của vua Lê cuối cùng, người sẽ sẵn sàng nổi dậy trong bất cứ một sự kiện nào.

Sự xung đột của tôi với triều đình An-Nam trong vấn đề tôi muốn di chuyển trên sông Hồng hiện ra trước mắt họ là một sự kiện họ có thể lợi dụng. Tôi không sáng tạo ra  hoàn cảnh, hoàn cảnh tự nguyện đến cho tôi và người nào đầu tiên lợi dụng hoàn  cảnh ấy. Trong sự kiện của chuyến thông thương của tôi, những người tông-ki-noa dự trù một sự tiến bộ, và người Trung hoa –  nhiều như Yûn-Nân cũng như Tông-kin –  khả năng để bán những quặng mỏ giầu có, trữ lượng rất nhiều ở khu vực thượng lưu của sông. Tất cả đều mong muốn một sự thay đổi, và thật là một sai lầm khi chúng ta cho rằng chúng ta đang đối diện với một dân tộc náo động và đối nghịch. Dân tộc  tông-ki-nois là ngoan ngoãn, thuần phục. Khi một người có địa vị, một người cũ, một người bề trên vì tài cán hay lý luận của họ, không một ai sẽ nghĩ là phản đối lại uy  quyền của họ. Thêm vào đó, xã hội của họ tự lập và được tổ chức rất tốt. Khi thay  đổi cái đầu của chính quyền, sẽ không có gì thay đổi. Chúng ta có thể xóa bỏ đám  quan lại ở Huế không một chút hiểm nguy. Vì người dân lựa chọn những người có  phẩm chức của họ, sẽ không khó để tìm ra giữa họ những người có chữ nghĩa để thay thế đám quan lại bắt nạt dân từ Huế.

Chính hoàn cảnh đó đã làm nên Tông-kin – và điều này bằng những con đường hòa  bình và nhân đạo – thành đồng minh tự nhiên của thế lực hàng đầu thế giới mà sẽ  can thiệp giữa họ và những người đang làm chủ đất nước hiện tại.

Những người quan lại biết rõ điều đó. Uy quyền của họ bị lung lay; uy tín của họ bị  giảm đi mỗi ngày; họ biết bao nhiêu rằng, một sự bảo hộ hòa bình của nước Pháp sẽ được chào đón với một cảm tình đồng nhất và thu phục.

Hậu duệ nhà Lê thêm một lần nữa định mượn tay ngoại bang dựng lại ngai vàng hay chăng, và quên đi tấm gương Lê Chiêu Thống ? Và Jean  Dupuis tận dụng mọi sự chia rẽ.

Tuy nhiên, ý đồ của Jean Dupuis phù hợp với toan tính của Francis  Garnier và đô đốc Dupré, hai người chủ trương tiếp tục gây hấn, đòi hỏi thêm quyền lợi ở Bắc kỳ và thông thương trên sông Hồng.  Francis Garnier bị quân Cờ đen phục kích chết chém đầu ngày 21.12.1873 tại Hà Nội.

Tháng hai năm 1874, cuối cùng, đô đốc Dupré ra lệnh trục xuất Jean Dupuis ra khỏi  lãnh thổ miền Bắc, sau hơn hai năm khích động quấy rối. Ngày 10.01.1876 tại Saigon Jean Dupuis viết lá đơn cuối cùng phản đối lại đô đốc Dupré, hắn ta phải trở về Pháp, tầu chở hàng và hàng hóa bị tịch thu, nhưng Jean Dupuis còn trở lại từ năm 1883 đến năm 1888 nhiều lần hầu gỡ gạc và đòi bồi thường tiền của đã mất. 

Paul Philastre dẫn đến việc ký kết Hiệp ước hòa bình và thân hữu 15.3.1874 (Traité  de paix et d´amitiés) với triều đình nhà Nguyễn.

Jean Dupuis qua đời ngày 28.12.1912 tại Monte-Carlo, 82 tuổi.

Chú thích:

1) Thông tin của Conseil-General.com và các trang thông tin mạng.

2) Thông tin Suezkanal, tiếng Đức, Wikipedia

3) Hoàng đế Napoleon III tên khai sinh là Charles Louis-Napoleon Bonaparte, sinh  20.04.1808 tại Paris, qua đời ngày 09.01.1873 in Chislehurst (London) còn được gọi  tắt là Louis Napoleon Bonaparte hay Napoleon III. Napoleon III là con của một  người em của Napoleon I. tên là Louis Bonaparte (1778-1846), mẹ là Hortense de  Beauharnais, con riêng của Josephine de Beauharnais, vợ của Napoleon I, tức là vừa  là cháu-chú, vừa là con rể-cha vợ, vì Napoleon I. đã nhận Hortense là con nuôi.  

4) Dấu xưa – Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, nxb Trẻ, 2011, trang 38

5) Trường Giang còn có tên là sông Dương Tử, hay Dương Tử Giang, và một số tên  gọi địa phương khác. Các sách sử địa Pháp sử dụng các tên „Yangtsé, Yangtze, Yang zi, Yang Tsé Kiang ou Yangzi Jiang“. Sông dài 6.300 km, bắt nguồn từ cao nguyên  Thanh Hải và Tây Tạng, chảy qua các tỉnh Vân Nam (Yunnan), Tứ Xuyên (Sichuan), Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy và Giang Tô, rồi đổ ra biển ở  phía Bắc của Thượng Hải (Shanghai). Trường Giang là con sông dài nhất Trung Hoa, nhưng tàu thuyền chỉ lưu thông được trên khoảng 2.800 km. 

6) Vân Nam (Yúnnán) là một tỉnh ở phía tây nam của Trung quốc, giáp biên giới với Việt Nam. Vân Nam có dân số 44.150.000 người, gồm có 22 dân tộc thiểu số, diện  tích 394.100 km² (rộng hơn diện tích Việt Nam). Thủ phủ của tỉnh này là thành phố  Côn Minh. Vân Nam là một vùng núi, nơi bắt nguồn của sông Hồng và sông Đà,  sông Mê Kông cũng chảy qua Vân Nam.

7) Jean Dupuis, Le Tonkin et L´Intervention française,

Tài liệu tham khảo:

1. Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược

2. Nguyễn Thế Anh, Việt Nam thời Pháp đô hộ, NXB Văn Học 2007

3. Mathilde Tuyết Trần, Dấu Xưa-Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, NXB Trẻ, 2011

4. Jean Dupuis, Le Tonkin et L´Intervention française, Paris, Augustin  Challamel,  Librairie Maritime et Coloniale, 1898

Commentaires fermés