Aller au contenu principal

Khác nhau và giống nhau

5. janvier 2021

Khác nhau và giống nhau – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Trong bài viết này tôi viết về cái nhìn chủ quan của tôi về việc khác nhau và giống nhau giữa người trẻ sinh đẻ ở nước ngoài và người trẻ sinh đẻ trong nước, lấy thí dụ trường hợp sinh sống ở Đức.

Những người trẻ trong nước bây giờ sang nước ngoài du học có một điểm nổi bật giông giống như thế hệ sinh viên ra đi ngày xưa của những năm 1950, 1960 và 1970. Thời đó phải là con ông cháu cha mới được đi du học tự túc sang Mỹ, sang Pháp, sang Anh, Thụy Sĩ, Bỉ, Canada, Nhật, Ý…và phải có bằng Tú Tài II ít nhất là hạng Bình trở lên, thêm một chứng chỉ ngoại ngữ của quốc gia mình muốn đến.

Tự túc có nghĩa là gia đình cấp tiền cho con đi ra nước ngoài ăn học, tiền ăn ở và tiền học phí. Nộp đơn lên bộ Giáo dục, chờ xét đơn, thấy tên mình trong danh sách được đi thì mừng hết lớn, đi mua vé máy bay „aller simple“ không có ngày về, rồi sửa soạn vali, thế là bay, đi. Một số ít được cấp học bổng đi du học. Thế hệ này sinh ra ở trong nước, lớn lên dưới sự chăm lo dạy bảo của bố mẹ đến năm 18, 19, 20 tuổi.

Sinh viên Việt Nam bây giờ đi từ Việt Nam cũng thế, về kinh tế có gia đình ở Việt Nam chăm lo, hay thuộc diện học bổng, ít có khó khăn, chỉ phải học. Đó là lợi điểm đầu tiên.

Trong khi đó thế hệ 2 của thế hệ 1 sàn xuất trực tiếp tại các nước đi du học, phải nói là có những trường hợp đa dạng hơn, Các cháu sinh ra, lớn lên trong một môi trường hoàn toàn „lạ“, bắt đầu một đời sống mới khác hẳn cha mẹ, nếu ở Đức, từ lúc đi Kindergarten, Vorklassen cho đến sáu tuổi vào trường tiểu học Grundschule, rồi 11, 12 tuổi lên học Gymnasien, Gesamtschulen hay Hauptschulen, Realschulen.

Các cháu nói tiếng Đức như trẻ con Đức, nhiều khi cha mẹ không nói tiếng Đức được như các cháu, giọng nói cũng khác, cách đặt câu cũng khác, không theo kịp con. Nếu ở nhà cha mẹ chỉ nói tiếng Việt với con, thường khi đến một lúc nào đó thì „buông“, vì con chỉ nói tiếng Đức.

Cùng với sự phát triển ngôn ngữ là sự phát triển tư duy. Mười tám năm lớn lên trong gia đình ở Việt Nam, hấp thụ văn hóa và truyền thống đã cho chúng ta một nền tảng không thay đổi, chúng ta là người Việt Nam dù sống ở nước ngoài năm, sáu chục năm cho đến chết.

Mình có đặt mình vào hoàn cảnh những đứa con của mình không ? Những đứa trẻ bị giằng co bởi sự khác biệt về thể chất, về xã hội, về gia đình. Gia đình người Việt, cha mẹ sinh hoạt, bạn bè, đi chơi giải trí…theo kiểu thuần Việt như có thể, rất ít bạn bè nước sở tại, quan hệ hời hợt, không hay thiếu hội nhập.

Chúng ta tự làm cho mình thành những thành phần lạ trong xã hội sở tại, vì không cần hội nhập chúng ta vẫn sống được, sống tốt nữa là khác…Nhiều người ra trường, có công ăn việc làm địa vị, nào là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư, chủ nhà hàng…. hơn hẳn người Đức sở tại, về hưu cũng có một đời sống khá hơn, sung túc hơn, viên mãn.

Nhưng con cháu chúng ta, từ khi đi học, chúng đã tiếp xúc với xã hội Đức, chúng đã phải đối phó với những vấn đề bạo lực học đường, kỳ thị, ma túy bạn bè dụ dỗ…. Tôi nhớ dạo con tôi 13 tuổi, một viên LSD chỉ có 6 DM, bán ngay tại trường học.

Có trẻ may mắn hơn, không hề bị những vấn đề trên cản trở đường học vấn. Có trẻ, nhất là trẻ châu Á, thường bị bạn bè trêu ghẹo, châm chọc, ghét bỏ vì bị cho là „Streber“…  Cha mẹ người Việt thường chú trọng một cách thái quá đến sự học của con, không ít người đặt những hoài bão mà mình không làm được tiếp tục lên con mình, phải ra trường thành luật sư, kỹ sư, bác sĩ …có địa vị trong xã hội sở tại, phải là „công dân hạng A“ mới đáng là con mình. Sức ép của cha mẹ nếu phát huy được tác dụng thì tốt, không được thì thất vọng cho cả hai bên cha mẹ lẫn con cái.

Trong thời đại toàn cầu hóa, các nước tân tiến lại thực hiện kinh tế di dời, chuyển đổi cơ sở sản xuất qua những nước khác để phát sinh ra thực trạng thất nghiệp ở nước mình, đồng thời chiến tranh ở khu vực Trung Đông khiến cho cả triệu người đi di tản đổ ập đến châu Âu, gây ra một loạt các hiệu ứng khác, trong đó có việc chống đối di tản, cụ thể là người di tản. Vấn đề Immigration (di tản) nổi lên, chúng ta không nên quên rằng định cư, sinh sống lập nghiệp ở một nước khác không cũng một ngôn ngữ với mình là thuộc về Immigration, mà chúng ta là những người nhập cư (les immigrés) theo định nghĩa hành chánh, dù có quốc tịch (nhập tịch).

Nếu có mảnh bằng tú tài rồi, các cháu đi tiếp, một vấn đề mới đặt ra cho các cháu, cho cha mẹ là „tự lập“.

Nếu khi trước, người cha đi làm một mình, đủ sức để nuôi vợ ở nhà nội trợ và con cái, thì nay chuyện con phải đi học xa, chọn trường, chọn ngành lại gây ra tốn kém, các cháu phải tính tới bước kiếm thêm tiền để ăn học, đỡ đần cho kinh tế gia đình. Dần dà, những hoàn cảnh, những cá tính, những sở thích, sở trường và sở đoản rất riêng tư được hình thành, những suy nghĩ khác đã được đặt ra, không theo đuổi bậc đại học nữa, mà theo con đường học nghề, âu cũng là một điều hay.

Những cháu đã tốt nghiệp đại học, nếu ai tìm được việc làm ngay thì người đó có „duyên“ được Trời cho, được đời ưu đãi, may mắn, còn không thì…thất nghiệp.

Thêm vào đó, chuyện tình yêu đôi lứa của các cháu là những chuyện mà thế hệ cha mẹ „khó bàn“, miễn bàn. Các quan niệm về hạnh phúc, tình dục, về giới tính, về hôn nhân, về gia đình rất khác với chúng ta, nhất là khi các cháu bị ảnh hưởng của đời sống của cha mẹ, ly dị, tái kết hôn…

Tựu chung, các cháu sinh đẻ ở nước ngoài, thế hệ 2 năm nay đã trên 40 tuổi, phần lớn từ 30 đến 40 tuổi, lại đã sản sinh ra thế hệ thứ ba từ 1 đến 20 tuổi, có một đời sống khác hẳn cha mẹ, vốn sinh ra ở Việt Nam, các cháu phải sống với những may rủi, với hoàn cảnh hiện tại của xã hội sở tại.

Về tinh thần, không thể trách các cháu là „như Đức“ được, cách suy nghĩ, cách lý luận, tư duy tự do hơn, khác chúng ta nhiều lắm. Chỉ nội cách xưng hô „Mama, du….und…ich...“ đã thể hiện một sự bình đẳng, không như cách xưng „con“ đối với cha mẹ của người Việt. Đối với các cháu đã trưởng thành, cha mẹ lại càng không thể áp đặt một điều gì, không có ảnh hưởng, cha mẹ chỉ có thể trợ giúp trong mọi trường hợp, mọi tình huống, mọi thay đổi của cuộc đời mà thôi. Bình đẳng trong quan hệ cũng có nghĩa là cha mẹ nên tôn trọng con cái, không xem con cái từ bé đến già là „dưới quyền“ của mình.

Xuyên suốt chương trình học từ nhỏ, các cháu học lịch sử, địa lý, văn học của châu Âu, của nước sở tại, đọc sách và hấp thụ văn hóa Anh, Pháp, Đức …không biết một chút nào về quê hương của cha mẹ. Tôi có một đứa con gái sinh đẻ và lớn lên ở Đức, theo mẹ về Việt Nam, ở lại ba năm, tốt nghiệp hạng ưu trường múa Thành phố Hồ Chí Minh, ra trường, cháu không muốn múa may quay cuồng làm phông cho ca sĩ hát, lại thêm một mối tình dang dở với chàng thanh niên đất Việt mà lại theo Mỹ, không muốn sang châu Âu sinh sống, thế nên nó trở về Pháp, đi lòng vòng quanh thế giới, rồi lại trở về….Đức. Đó chỉ là một thí dụ của một cá nhân, nhưng nói lên tầm quan trọng nơi chốn mình sinh ra và lớn lên thời niên thiếu. Cái gì cũng vậy, có người nọ người kia, nếu có ai hòa nhập, thích hợp được với môi trường xã hội ở Việt Nam, về nước làm việc đóng góp sinh sống thì xin hoan hô cả hai tay.

Vấn đề „Identität“ (nguồn gốc) chỉ có người ngoài nhìn vào cho là lớn, đối với các cháu thì không. Lo vật lộn với xã hội Đức để kiếm ăn cho gia đình, con cái, vợ chồng, ít người có thì giờ rảnh rỗi để nghĩ đến „Problemen“ đó mỗi ngày. Tôi nghĩ rằng, các cháu có ý thức mình có gốc Việt Nam, thích ăn bánh chưng, chả giò, gỏi cuốn mẹ làm, biết về Tết, phong tục lì xì, chưng hoa, cúng giỗ trong gia đình…, thậm chí thấy cha hay mẹ gần chết, cũng lo xin một tấm ảnh đẹp của cha mẹ và ông bà, học…lập bàn thờ, và truyền lại những điểm ấy cho con của mình. Các cháu biết ông biết bà là người Việt Nam, mình cũng có …chút xíu gốc Việt Nam. Đó là điểm giống nhau với những người trẻ ra đi từ Việt Nam đến Đức ăn học. MTT

Commentaires fermés