Aller au contenu principal

Bạn họ Nguyễn hay N´guyen ? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

14. janvier 2021

Bạn họ Nguyễn hay N´guyen ? ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Tôi khá bực mình khi nghe người ta gọi tên mình sai, nhưng thật tôi không có lý để bực mình, vì người ta có hiểu tên và họ của mình đâu, mình cũng không hiểu tên và họ của những dân tộc khác. Tôi viết bài này cho cả hai bên Pháp – Việt có thể thông cảm được nhau trong cách đặt tên và gọi tên.

Dân Pháp, theo những người nghiên cứu gia phả thì họ bắt đầu có họ, thêm vào với tên, vào khoảng thế kỷ thứ 15.

Cả làng mang tên Jean, tên được chọn hàng đầu cho con trai, con gái thì là Marie.  Vậy muốn tìm kiếm ai thì phải biết thêm chi tiết Jean, mà ở đâu ? Có điểm gì đặc biệt ? Đầu làng, cuối làng, bên cạnh giếng nước, cạnh bìa rừng…cao, thấp, to, bé…? ở vùng nào ? Từ đó mà xuất hiện Jean Lelong, Jean Lepetit, Jean Dubois, Jean Dupont, Jean Dechamp, Jean Lafontaine, Jean Defrance….

Người Pháp viết tên trước, họ sau.

Bình thường mỗi người Pháp có ba tên và họ, nhưng chỉ sử dụng một tên đầu, thí dụ: Jean Michel Marie Lelong, thì chỉ sử dụng Jean Lelong.

Phụ nữ Pháp khi lấy chồng, trên hộ tịch vẫn giữ tên như trước khi lấy chồng, nhưng được quyền sử dụng tên chồng một cách chính thức, được ghi tên chồng trong các giấy tờ hộ tịch.

Người Pháp có một truyền thống rất hay là dùng tên cha, mẹ, ông bà ngoại nội, chú, bác, cô, dì để đặt làm tên, tên chính hay tên thứ, cho con để có tiếp nối gia đình. Nhờ có điều này mà các nhà nghiên cứu gia tộc, gia phả tìm lại được những mối liên hệ từ cả mấy trăm năm, những sự chuyển vùng sinh sống của tổ tiên, gốc tích…Nhiều khi, đặc biệt là cái họ bị chép đi chép lại, nét chữ, tuồng chữ viết không rõ ràng nên bị truyền lại sai lạc đi.

Tên người châu Âu nói chung dễ phân biệt nam nữ. Người Pháp lấy tên các thánh nam như Jean, Pierre, Michel, Thierry, Daniel…hay các thánh nữ như Marie, Madeleine, Christine, Brigitte, Helene, Rose, Sylvie…

Trong thời đại mới, tùy theo gốc tích và theo „mốt“ dân chúng du nhập thêm các tên nước ngoài vào cách đặt tên cho con trai như Kevin, Liam, Tiago, Kais, Kenzo, Ali…cho con gái như Lina, Zoe, Romy, Nour, Zelie, Lila, Noemie….

Người Việt khi nhập đạo Công giáo lấy „tên thánh“ thí dụ như Jean Bùi văn Bê, thực ra cũng như phong cách đặt tên của người Pháp vậy, tên nào thì cũng là tên của các thánh.

Và cũng có những người mang họ kép phối hợp họ cha và mẹ: Dubois-Dechant.

Trong phạm vi của một bài viết ngắn gọn tôi xin miễn bàn về tên của các dòng họ hoàng gia châu Âu với những chức tước dài lòng thòng khó hiểu.

Từ lâu, tên và họ cần thiết cho công việc hành chánh hộ tịch các loại, bán nhà, bán đất, kết hôn, khai tử, thừa kế….

Bây giờ, việc quản lý người dân được hệ thống hóa bằng vi tính, điện tử, ngày càng tinh vi, tối tân hơn. Kiểm soát bằng thẻ nhà băng, điện thoại, địa chỉ và một cái tên cũng không đủ, con người phải được nhận diện rõ ràng bằng dấu tay, khuôn mặt, những con số…để một con kiến cũng không lọt được mạng lưới quản lý hành chánh.

Người Việt có nhiều họ, nhưng đa số thuộc khoảng mười dòng họ chính theo họ của các các triều đại vua và chúa trị vì trong lịch sử Việt: Triệu, Lý, Ngô, Đinh, Lê, Trần, Trịnh, Nguyễn và các công thần đại quan Phạm, Huỳnh, Vũ, Bùi, Đỗ, Hồ, Dương…

Triều đại càng xa thì số người mang họ của triều đại đó càng ít đi như Triệu, Đinh, Ngô, Lý, Lê, Trần….

Bởi vậy, ngày nay con số người mang họ Nguyễn, là triều đại nhà Nguyễn từ vua Gia Long cho đến vua Bảo Đại trải qua 143 năm trị vì (1802-1945), chiếm gần 40% dân số cả nước Việt Nam gần 100 triệu người. Kế đó là họ Trần 13% và họ Lê 11%.

Nếu bạn họ Nguyễn ? Thì bạn thuộc vào 40 triệu người cùng họ Nguyễn, dòng họ cuối cùng của Việt Nam. Bạn bực mình khi bị gọi tên là N´guyen ? N´guyen là sai tuyệt đối, không phải là cách viết tên hay đọc tên của người Việt hay gốc Việt.

Họ và tên của người Việt gồm có ba phần: Họ + tên đệm + tên chính. Chữ đầu là họ chữ cuối là tên.

Để phân biệt trai và gái, đàn ông và đàn bà, cách đặt tên theo lối cổ xưa thì thêm vào chữ Văn cho phái nam và chữ Thị cho phái nữ. Ở đây tôi không đi sâu vào việc giải nghĩa tại sao lại như thế, e bài quá dài.

Thí dụ như: Nguyễn văn Anh, Trần thị Hoa

Tuy nhiên, cách đặt tên cho con của cha mẹ thì rất tự do, cho nên có nhiều phong cách khác nhau.

Họ đôi: Nguyễn Trần văn Anh (ghép họ cha và họ mẹ lại với nhau)

Tên đôi: Trần thị Hoa Mai

Hoặc bỏ hẳn chữ lót Thị hay Văn theo lối cổ xưa:

Nguyễn Hùng Anh

Trần Hoa Mai

Hoặc cả tên cha thêm tên con:

Nguyễn Cao Kỳ Duyên

Hoặc chi có họ và tên, không có tên đệm hay tên lót, thường chỉ dùng cho giới nam: Nguyễn Bá, Trần Cảnh…

Có những họ, mà vừa là họ vừa có thể đặt là tên, dễ gây nhầm lẫn,

thí dụ như Phan, Hoàng, Lê, Ngô, Trương, Chu, Châu, Phùng, Quân, Tống, Trác, Mai…

Có những tên đặt cả cho nam cũng như nữ:

thí dụ như Anh, An, Bình, Hà, Khánh, Linh, Lương, Nguyên, Tâm, Thanh, Tú, ….dễ gây nhầm lẫn không biết là nam hay nữ, nếu không có một tên đệm kèm theo làm rõ nghĩa.

Có những tên làm đau đầu nhân viên hộ tịch nước ngoài, thí dụ như Nguyễn Nguyên, viết không có dấu thì tên họ giống nhau

Nhiều gia đình có văn hóa cao lại còn điệu hơn khi đặt tên cho con, họ chọn một chữ ghép với họ để làm họ đôi cho các đời sau, như thế họ sáng tạo ra một dòng họ mới, thí dụ như dòng họ „Nguyễn Hùng“ cho đến khi nào con cháu tự ý không sử dụng tên đệm là „Hùng“ thì mới dứt.

Cha là Nguyễn Hùng Anh

Con là Nguyễn Hùng Kiệt

Cháu là Nguyễn Hùng Cường

Chắt là Nguyễn Hùng Dũng

Chít là Nguyễn Hùng Mạnh

Vấn đề khó khăn trong cách đặt tên của người Việt là nằm ở tên đệm.

Tên đệm đứng độc lập: thí dụ như Nguyễn Trương Hà, Trần văn Anh, Lê thị Hoa….

không phối hợp được với họ hay tên.

Tên đệm phối hợp với tên chính: để cho có tên đẹp, văn vẻ, có những tên phối hợp rất „kêu“ cho nữ giới như Ngọc Dung (mặt đẹp như ngọc), Thanh Hà (dòng nước xanh)…và cho nam giới như: Thanh Liêm, Chính Trực, Phú Quý, Vinh Quang, Tuấn Tú….

Đáng lẽ những tên kép phải được viết bằng gạch nối, nhưng ít có người sử dụng gạch nối, điều này dễ gây ra những sự nhầm lẫn trong hộ tịch hành chánh, nhất là ở nước ngoài.

Ngoài tên trong giấy khai sinh, thói quen và tập tục tạo ra thêm một loạt tên nữa gắn bó với con người, thí dụ như tên trong nhà: cu Tí, con Ti, cái Hĩm, bé Na, cu Mít, cô Hai, cậu Tư, Út thôi, Út nữa, Út hết.., tên bí danh, tên mật danh, biệt hiệu, tên gọi ngoài đường thí dụ như người tên Bông có vẻ quê mùa, trong nhà gọi là Bông, nhưng ra đường đổi lại thành Hoa cho văn vẻ hơn.

Sử sách chép lại là vào thế kỷ thứ 19 chúa Nguyễn Phúc Ánh cho  những đoàn thuyền vượt biển với hơn 3.000 người Trung Hoa định cư ở miền đất miền Nam, nên có nhiều hậu duệ gốc Hoa ở vùng này mang họ có gốc tích người Tầu, thí dụ như họ Trát, họ Cao…

Trong lịch sử nước mình có nhiều chuyện « thay tên đổi họ » vì hoàn cảnh loạn lạc, chiến tranh, bị tù đày, ép buộc …, phải đổi họ sang họ khác, hay không dám lấy họ cha phải lấy họ mẹ ….

Riêng đối với tên vua chúa nhà Nguyễn thì lại còn đặc biệt hơn nữa. Triều đại nhà Nguyễn chấm dứt năm 1945, nên còn hiện đại, những người thuộc dòng dõi hoàng tộc còn rất nhiều, phần lớn họ gặp khó khăn với chính quyền hành chánh nước ngoài về hộ tịch, trong nước cũng không kém khó khăn vì cách đặt tên của hoàng tộc. Lấy thí dụ như trường hợp của vua Duy Tân ở Pháp.

Hành chánh Pháp chỉ ghi tên của vua Duy Tân vẻn vẹn là Prince Vĩnh San trong hồ sơ lý lịch, bỏ mất họ là Nguyễn Phúc có từ đời vua Gia Long là chúa Nguyễn Phúc Ánh. (Người miền Nam nói trại chữ Phúc là chữ Phước: Nguyễn Phước Ánh.)

Chính ra vua Duy Tân có nhiều tên:

tên húy là Nguyễn Phúc Vĩnh San

tên sau khi lên ngôi là Nguyễn Phúc Hoảng (ghi trong kim sách nhà Nguyễn)

niên hiệu (đời vua) là Duy Tân

Các con của vua Duy Tân, khi được làm lại giấy khai sinh để mang họ cha, vì không biết tục lệ, cha tên là Prince Vinh San thì cứ thế lấy luôn cái tên làm họ, rồi tới đời cháu, đời chắt cũng mang luôn tên Vinh-San, vô tình mà họ „sáng tạo“ ra dòng Vinh-San trên đất Pháp, cũng là một điều hay, sau này có ai mang họ Vinh-San thì người đó là hậu duệ của vua Duy Tân. MTT

Kim sách nhà Nguyễn, khắc bài Đế hệ thi của vua Minh Mạng, để đặt tên cho các hoàng tử dòng chính thống của vua Minh Mạng – vua Gia Long, họ là Nguyễn Phúc :

Miên Hồng Ưng Bửu Vĩnh

Bảo Quý Định Long Trường

Hiền Năng Kham Kế Thuật

Thế Thụy Quốc Gia Xương

Vua Duy Tân là Nguyễn Phúc Vĩnh San (đời thứ 5 sau vua Minh Mạng), tên thứ hai San được chọn trong bộ Ngọc. Nhà Nguyễn làm vua đến đời Bảo Đại thì chấm dứt. Nếu các dòng con cháu kế tiếp không giữ cách đặt tên như trên thì thất lạc.

Commentaires fermés