Aller au contenu principal

Vinh – Hà Tĩnh – Vĩ tuyến 17 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

7. novembre 2021

Vinh – Hà Tĩnh – Vĩ tuyến 17 ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài viết này được viết trong khoảng thời gian du lịch cưỡi ngựa xem hoa năm 2009-2012 tất nhiên không còn tính cách thời sự, đã xuất bản trong cuốn hồi ký du lịch « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi » năm 2013. Mười năm là một thời gian dài để cho cuộc đời vật chất có thể thay đổi nhiều. Nếu có dịp, tôi lại đi lại con đường cũ đã đi qua từ Bắc chí Nam để thấy sự thay đổi đó. Về Vinh, hay Nghệ An, làng Sen, về vĩ tuyến 17…đối với tôi là một sự bắt buộc, vì đó là những địa danh lưu truyền sử sách. Tôi luôn ao ước thấy tận mắt sức sống của đất nước qua thời gian. Đối với chồng tôi, người Pháp, những chuyến đi « hộ tống » vợ đã giúp cho anh thêm hiểu biết rất nhiều về « cái nôi » của tôi. Tôi dắt anh đi từ kỷ niệm này sang kỷ niệm khác trong đời. Bài viết này tôi tưởng nhớ đến hai anh của tôi, hạ sĩ Trúc (26 tuổi) và hạ sĩ Điểm (24 tuổi) đã hy sinh trong trận hành quân Lam Sơn liên kết 36 năm 1966 ở Quảng Trị.

Tôi về thăm thành phố Vinh cũng vì muốn chụp cho bác Minh vài tấm ảnh của quê hương bác. Có ngờ đâu, về Vinh cũng như Từ Thức về quê, Vinh ngày nay thuộc về tỉnh Nghệ An, là một thành phố lớn, kiến trúc xây dựng hiện đại, với những quảng trường thật rộng lớn, những đại lộ thênh thang, những khách sạn du lịch theo tiêu chuẩn quốc tế, dân số toàn tỉnh xứ Nghệ lên đến hơn 3 triệu người (thống kê 2009) có còn đâu quá khứ ngày xưa. Một dãy nhà chung cư cũ, xây thời bao cấp, đang bị đập phá để xây lại mới. Các cửa hàng trên đại lộ chính ở Vinh đầy ắp hàng hóa, xe hai bánh mới tinh, quần áo bằng da, giầy da… Tôi về Vinh đúng vào mùa cưới, các khách sạn ba sao, các nhà hàng lớn của Vinh tất cả đều có tiệc cưới. Cô dâu đều mặc áo đầm trắng như ở châu Âu, chú rể thì diện com lê đen hay toàn trắng. Tìm mãi không có chỗ ăn, chúng tôi phải lánh ra một quán cơm bình dân ăn cơm phần, cơm xe tải, nằm ở đầu đường vào thành phố Vinh. Trời lạnh, lại có gió, nên chúng tôi tiếc là không ra thưởng thức biển ở Cửa Lò được, mà xuôi về Hà Tĩnh.

Đoạn quốc lộ 1 ngang qua Hà Tĩnh còn là một đường hai chiều với hai lằn xe, xe hơi nhỏ, xe tải, xe hai bánh, xe đạp luồn lách tránh nhau. Chúng tôi không có dự tính dừng ở Hà Tĩnh nên xe lướt nhanh qua. Tuy thế, khi nhìn thấy có hai tháp chuông nhà thờ nổi lên giữa ruộng xanh, từ đường cái, chồng tôi vội vã xin anh tài lùi xe lại, để vào tham quan nhà thờ ấy.

Xe rẽ vào một con đường đất còn nhỏ, cứ nhắm hướng nhà thờ ấy mà đi. Như nhiều nơi khác, mặt đường cứ hẹp dần lại, đường đất nối tiếp đường được trải nhựa. Hai bên đường, nhà nhà đều có làm hang đá Chúa Hài Đồng trước cửa, Giáng Sinh vừa mới qua, đúng là xóm đạo. Hang đá làm bằng bao ny lông cũ, loại đựng gạo hay phân bón, lộn ngược lại bên trong, vò nhăn nheo giả đá, phun mầu nâu, mầu xám mầu đen lên, và trang trí bằng nhiều dây đèn xanh đỏ vàng trắng. Khi đến nơi, chồng tôi rất ngạc nhiên nhìn « cái » nhà thờ, thật cao, thật to, xây theo kiểu vương cung thánh đường ở Sài Gòn với hai tháp chuông, mọc lên giữa đồng không mông quạnh, chung quanh toàn là ruộng lúa. Trước nhà thờ là một vườn hoa rất rộng, có lối đi ở giữa tiến thẳng vào nhà thờ, hai bên là 13 tượng rất to sơn trắng, thể hiện đường đi lên thập tự giá của Chúa, đã hoàn tất. Trước cửa nhà thờ cũng là một hang đá rất to, có tượng Đức Mẹ, Đức Chúa, Thánh Joseph, ba vua, lừa, bò….Trong nhà thờ thì một đàn gà đang đi chơi thong thả vì nội thất chưa làm xong, một đống cát để trộn xi măng còn nằm ở giữa. Sự hoành tráng ấy, cái gì cũng to, cao, rộng làm chúng tôi ngạc nhiên. May sao, gặp được một người trong họ đạo, chúng tôi được vào thăm nhà thờ cũ của giáo xứ nằm ngay bên cạnh. Nhà thờ cũ nhỏ nhắn, ấm cúng, còn mộ phần của những người chăn chiên thưở trước. Thánh đường mới được xây bằng công đức của giáo dân đóng góp.

Nóng ruột muốn đến khu vực vĩ tuyến 17 sớm, nên chúng tôi tiếp tục đi ngay về hướng Đồng Hới, Lệ Thủy của tỉnh Quảng Bình trên quốc lộ 1. Anh tài cho biết là chiều ý chúng tôi muốn đi dọc quốc lộ 1, nhưng hiện nay đường Hồ Chí Minh, con đường « mòn » nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam, song song với quốc lộ 1, nhưng nằm sâu hơn vào trong đất liền, sát rặng Trường Sơn, đã được xây dựng cho xe các loại giao thông, khi đưa chúng tôi đến Huế, xong nhiệm vụ, anh sẽ quay về Hà Nội theo đường Hồ Chí Minh, chạy nhanh hơn. Sau nhiều ngày đưa chúng tôi đi đó đi đây, anh nhớ vợ nhớ con quá rồi, đếm từng ngày từng đêm.

Anh tài đề nghị nghỉ ăn trưa sau khi đã qua đèo Ngang, cách Hà Tĩnh 75 cây số xuôi về Nam. Tôi mừng quá, được qua đèo Ngang trên rặng Hoành Sơn của Bà Huyện Thanh Quan:

Bước tới đèo Ngang bóng xế tà,

Cỏ cây chen lá lá chen hoa

Lom khom dưới núi tiều vài chú

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.

Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,

Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

Dừng chân đứng lại trời, non, nước

Một mảnh tình riêng ta với ta.

nhưng hôm nay thì mưa như trút nước dai dẳng, đúng là qua đèo Ngang với một mảnh tình riêng mình với mình, không thể xuống xe ngắm cảnh, chụp hình được, tiếc ơi là tiếc.

MTT_V22

Đèo Ngang nổi tiếng trong sách sử vì nó đã từng là biên giới thiên nhiên của hai nước Đại Việt và Chiêm Thành thời rất xa xưa. Sau này người Pháp còn đặt một cái tên cho đèo Ngang: «Porte d’Annam». Tấm bảng chỉ đường cho biết nơi này còn cách thành phố Hồ Chí Minh 1.350 cây số, tiến xuống phía Nam thật là đường xa vạn dặm. Đèo Ngang bây giờ nằm giữa hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh, không còn là biên giới phân chia, mà là một thắng cảnh nguyên thủy của miền Trung.

Đi mãi đến Quảng Trạch, trời đã bớt mưa, mới tìm được một hàng cơm còn phục vụ khách, bọn tôi ba người mừng quá, sắp hết đói rồi. Cái xe cũng được nghỉ xả hơi, máy đã nóng bốc khói. Bữa cơm bình dân có tôm rim, bò xào giá, cơm, canh, và bia Huda của Huế. Khách chưa ăn, con chó của chủ nhà đã đứng chầu mõm cạnh chân bàn.

Vừa lên xe đi, trời lại đổ thêm một cơn mưa to dai dẳng nữa, đường xá đã lầy lội còn lầy lội thêm. Nhưng bọn tôi no bụng vẫn thấy sướng hơn là lúc còn đói. Đoạn từ Hà Tĩnh xuống Đồng Hới, quốc lộ 1A ôm khá sát ven biển. Xe chạy ngang qua khu vực du lịch Phong Nha, Kẻ Bàng của vùng Bố Trạch.

MTT_V27Đến Đồng Hới thì không thể không đến thăm Lũy Thầy của Đào Duy Từ xây từ năm 1630 theo lệnh của chúa Nguyễn Phúc Nguyên để bảo vệ Đằng Trong, chống lại Đằng Ngoài. Một tấm bảng kể ngắn ngủi sự tích Quảng Bình Quan đã được Đào Duy Từ xây từ năm 1631, năm 1825 vua Minh Mạng cho xây lại bằng gạch đá, nhưng trong ba năm 1965-1968 bom Mỹ, trong chiến tranh đánh phá miền Bắc, đã phá sập toàn bộ di tích cũ, chỉ còn lại phần móng, rồi mãi đến năm 1994 mới được xây cất lại theo mẫu cũ.

Chúng tôi đi từ phía Bắc xuống, nhưng du khách có thể đi ngược từ Huế lên khu vực vĩ tuyến 17, mà các dịch vụ du lịch đặt tên là chương trình tham quan DMZ (Demilitarized Zone, vùng phi quân sự): từ Huế đi Đông Hà, cầu treo Đakrông, Khe Sanh, Tà Cơn, thành cổ Quảng Trị, nhà thờ La Vang, địa đạo Vĩnh Mốc, dốc Miếu, hàng rào điện tử Mac Namara rồi về lại Huế trong một ngày.

Con sông Bến Hải, dài gần 100 cây số, con sông không may đã đi vào lịch sử Việt Nam là biểu tượng của sự chia cắt phân ly, bắt nguồn từ rặng Trường Sơn trong khu vực tỉnh Quảng Trị, chảy xeo xéo từ Nam lên Bắc, qua Bản Mít, Bản Mới, cắt ngang đường Hồ Chí Minh và quốc lộ 1 ở vĩ tuyến 17 để đổ ra biển Đông ở cửa Tùng, nên theo hiệp định Genève 1954 là con sông biên giới của hai miền Nam Bắc, thuộc khu vực phi quân sự tạm thời. Bờ Bắc của sông Bến Hải là huyện Vĩnh Linh, bờ Nam của sông Bến Hải là huyện Gio Linh. Những trận đánh ở Quảng Trị, nhất là ở Khe Sanh, nằm gần biên giới Lào, là những trận đẫm máu ác liệt. Hai người anh tôi, anh Điểm và anh Trúc trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa thời ấy, cũng đã hy sinh nơi đây. Anh Điểm (thuộc sư đoàn Thủy quân lục chiến) được 24 tuổi, anh Trúc (thuộc sư đoàn Bộ binh) được 26 tuổi, còn rất trẻ.

MTT_V28

Sông Bến Hải có nhiều tên, còn gọi là sông Minh Lương vì chảy qua làng Minh Lương, nhưng đến đời vua Minh Mạng vì kỵ húy phải đổi tên làng, tên sông thành Hiền Lương. Vì thế cây cầu bắc ngang qua sông Bến Hải tại cây số 735 trên quốc lộ 1A có tên là cầu Hiền Lương, dài khoảng 100 mét. Lịch sử cầu Hiền Lương được ghi lại từ năm 1928 mới đầu chỉ là bằng gỗ, đi bộ qua cầu. Năm 1950 Pháp xây lại cầu bằng bê tông cốt thép, dài 162 mét, rộng 3,6 mét, đến năm 1967 thì bị bom Mỹ đánh xập. Một chiếc cầu phao được bắc tạm từ năm 1972 cho đến 1974. Cầu cũ, từ cầu chia cắt trở thành cầu thống nhất hai miền Nam Bắc được xây dựng lại với chiều dài 186 mét, 9 mét bề ngang, có hành lang đi bộ rộng 1,2 mét. Năm 1996 thêm một cây cầu mới dài 230 mét, rộng 11,5 được xây song song với cầu cũ, về phía Tây, được sử dụng cho việc di chuyển, cầu cũ đứng đó với nhiệm vụ là di tích lịch sử độc đáo.

MTT_V29Hiện nay bờ Bắc còn cột cờ cao 38,6 mét xây mới từ 1962 với lá cờ rộng 134 mét vuông, nặng 15 kí lô. * Ngày hôm ấy mưa gió lạnh, ảm đạm, tôi đứng ở đầu cầu Hiền Lương cũ, ngắm hai chiếc cầu song song, nước sông Bến Hải chảy xiết, hai bờ hai bên vẫn còn hệ thống loa phóng thanh ngày xưa. Trên bờ Nam có một kiến trúc hình những cái lá nhọn, sắc cạnh, như những mũi dao to bản chĩa thẳng đứng lên trời, làm cho tôi có cảm giác rờn rợn. Ai lại đi xây một khu vực tưởng niệm như thế nhỉ.

Đứng tần ngần hồi lâu trên cầu Hiền Lương, mà tôi không dám đi qua suốt cầu, có một cảm giác gì đó khó tả, chúng tôi đi về cột cờ chụp vài tấm hình, rồi lên xe đi cửa Tùng.

Đến tận cửa Tùng, nằm giữa hai huyện Vĩnh Linh (bờ Bắc) và huyện Gio Linh (bờ Nam) thuộc tỉnh Quảng Trị, đối với tôi là một điều bắt buộc, không thể bỏ qua. Trong thời gian vua Duy Tân còn trên ngai vàng ở Huế, thỉnh thoảng nhà vua được đi nghỉ hè ở cửa Tùng, tạm trú trong biệt thự của khâm sứ Huế. * Từ Huế ngược ra hướng Bắc để đi cửa Tùng đường dài khoảng 180 cây số, nhưng từ cầu Hiền Lương ra đến cửa Tùng thì khá gần, chỉ khoảng 10 cây số về hướng Đông Bắc, cửa Tùng là nơi con sông Bến Hải đổ nước ra biển. Có đường đi đến tận cửa Tùng là tôi mừng rồi. Nhằm hôm mưa gió khá mạnh, sóng biển ào ào đập vào xem rất hung dữ, chúng tôi không xuống bãi, chỉ đứng co ro trên cái nền nhà của biệt thự khâm sứ Huế khi xưa nay đã bị triệt hạ hoàn toàn, ngắm cảnh sông hòa với biển từ trên cao. Cửa Tùng khá rộng, nước một màu xanh xám, mây đen mây xám mây trắng xà xuống thấp sát từng con sóng cuồn cuộn đổ về. Tưởng tượng tâm trạng vua Duy Tân khi ngắm nhìn cùng một khung cảnh mưa gió như hôm nay, thì có lẽ đã buồn lo lại còn buồn lo hơn.

MTT_V32Khi trời đẹp thì cửa Tùng cũng đổi mầu từ xám sang xanh, và là một nơi tắm biển, nghỉ dưỡng được mệnh danh là « nữ hoàng của bãi biển » miền Trung.

Về trở lại thành phố Đông Hà, chúng tôi muốn từ đây theo đường 9 đi thăm Khe Sanh và cứ điểm sân bay Tà Cơn cách Khe Sanh 2 cây số, nghe nói ở đấy có một khu lưu niệm chiến tranh, để xem tận mắt nơi hai anh tôi đã ngã xuống trong trận hành quân Lam Sơn liên kết 719 năm 1966, chỉ có khoảng 60 cây số về phía Tây (hướng Lào) thôi. Nhưng không biết tại sao anh tài cản quá chừng, cô ơi mùa mưa đường lầy lội rất trơn, khó đi, lại là đường núi, vắng vẻ, xe có bị gì không có ai cứu hộ, mà cô lên đến đó lại quay về ngay trong ngày, trời chiều mau sụp tối, thì cực khổ lắm, cô chờ mùa khô rồi hẵng đi. Gần Khe Sanh, đi tiếp khoảng 20 cây số thì đến cửa khẩu Lao Bảo qua Lào, và di tích nhà tù Lao Bảo, cách cửa khẩu Lao Bảo chỉ có 3 cây số, do chính quyền thực dân Pháp lập nên từ năm 1908 và trở thành một trong những nhà tù lớn nhất Đông Dương, bao nhiêu người đã bỏ xác ở đó. Chúng tôi nghe lời anh tài đi về Huế trong một cơn mưa phùn, cảm thấy buồn buồn theo trời và đất. Chưa có duyên thì đi chưa tới.

Năm 2012, đọc tin khu vực Khe Sanh – Lao Bảo đã trở thành « khu đất vàng » do đầu tư để đón khách du lịch, đường xá tốt hơn trước, nên lần sau, thể nào chúng tôi cũng về thăm Khe Sanh.

MTT_V30

Đứng giữa cầu nhìn về bờ Nam và….bờ Bắc trong một ngày mưa gió lạnh buốt trên cầu Hiền Lương sông Bến Hải

MTT_V31

MTT_V24

MTT_V23

MTT_V20

MTT_V25

MTT_V26

Ghi chú:

1) Theo Sài Gòn giải phóng, ngày 23.05.2012.

2) Dấu xưa,Tản mạn lịch sử nhà Nguyễn, MathildeTuyetTran, nxb Trẻ, 2011

Commentaires fermés