Aller au contenu principal

Bình minh trên Thành phố

27. novembre 2021

Bình minh trên Thành phố – ©Mathilde Tuyết Trần, France 2021

Bài viết này tôi viết trong khoảng thời gian 2009-2012, những con số tuy đã mất tình thời sự nhưng nó nói lên được sự thay đổi so với hiện tại của xã hội, của ngày hôm qua so với ngày hôm nay. Đó là sự cố tình ghi chép của người viết. Sự phát triển và sự giầu có tột cùng, bên cạnh đó cái nghèo, cái thiếu thốn, cái cực khổ của người dân đều đập vào mắt. Nhưng ở mình, có một sự đoàn kết, một sự gắn bó của con người với con người, lá lành đùm lá rách, ít thấy ở nơi khác. Một ngày nào đó, tôi hy vọng được trở về một lần nữa trên thành phố thân yêu.

Thương mến tặng các bạn đã đi du học cùng thời với tôi, đặc biệt là các bạn ở Đức, những người bạn rất quý, rất thân tình, trong suốt nửa thế kỷ đã chung thủy, giúp đỡ, chia xẻ với tôi những nỗi buồn, nỗi vui của cuộc đời và tuy xa mặt nhưng không cách lòng, tôi không bao giờ quên các bạn. MTT (kỷ niệm 50 năm 1971-2021)

Trích « Từ Lũng Cú đến Đất Mũi », hồi ký du lịch, xuất bản năm 2013

Tôi trở về thành phố thân yêu của tôi lần này thì thấy mình đã già hẳn đi rồi. Cái thành phố còn nhỏ bé, còn yên tĩnh, êm đềm, còn đảo một vòng xe hai bánh vừa vặn khi xưa, cách đây hơn 40 năm, trên thực tế nay đã lùi vào quá khứ, chỉ còn lại trong hoài niệm tuổi thơ thôi. Thành phố ngày hôm nay là một cái nồi nước sôi ban ngày tháng ba nóng đã lên đến 36°, 37°, không gió, oi bức như đang chuyển giông, làm tôi còn nhớ cái lạnh mát mùa xuân của Hà Nội đang còn 11°, hay cơn gió trong lành hiu hiu của biển Quy Nhơn ở 26° trong cùng thời điểm.

Cơn mưa đầu mùa rơi xuống còn chưa đủ nước, chưa đủ lâu, chỉ làm mát một chút buổi chiều, hay vừa mới là những hạt bụi nước lấm tấm rồi ngưng. Người thành phố, không biết chạy đâu mà ngược xuôi, hối hả, đèn chưa xanh đã phóng, đèn đỏ rồi còn ráng quẹo, ráng lấn lên lề đường để phóng trước, đi tiếp, đầu tắt mặt tối. Thấy tôi đi một mình len lỏi trong các bóng râm, mùa này hoa me đang nở, đã lâu lắm rồi tôi quên bẵng đi rằng hoa me mầu vàng rực, đẹp không thua gì hoa phượng đỏ, anh tài xe ôm ngoắc ngoắc, cô ơi đi đâu tui chở đi, sáng giờ xui quá chưa có cuốc nào.

Cái thú phóng xe honda ngày xưa tôi vẫn còn nhớ, nhưng bây giờ thì xe cộ chen chúc đông quá, bao nhiêu là xe máy, xe buýt kềnh càng, xe taxi hối hả rượt bắt khách, xe nhà loại xịn rất sang trọng…bụi bặm quá, ngột ngạt quá.

Nhiều công nhân quét dọn công viên, đường phố, họ ngồi đong đưa trên miệng cống, nhìn cái hố cống đã được hút sạch, hơi cống bay lên nồng nặc, nhưng họ thỏa mãn về kết quả sạch sẽ của mình. Thành phố sạch thật, thảm cỏ xanh được cắt, xén, quét dọn, rác rưởi trên đường phố cũng được gom thành đụn nhỏ, chờ hốt đi. Thành phố sạch sẽ như hồi tôi đi.

Thương xá Tam Đa cũ đã gần bị phá hủy hoàn toàn, chỉ còn lại vài nhà sẽ bị phá sập, những đống gạch vụn nằm ngổn ngang. Nghe nói, trên nền đất này, người ta sẽ xây lên một trung tâm bán vàng bạc đá quý rất lớn, rất nguy nga, rất lộng lẫy. Một người quen ở thương xá Tam Đa than thở, anh đang sắp xếp va li, đồ đạc, chưa biết đi đâu để „làm lại cuộc đời“ từ con số không, nhưng chắc chắn là phải đi sau Tết.

Mỗi lần đi ngang đường Đồng Khởi (Tự Do cũ) tôi ngậm ngùi nhớ vườn bông củ cải. Cái khoảng trời xanh cỏ xanh cây xanh nho nhỏ với các bình bông quét vôi trắng tinh thật to đặt ở các góc, trên lú lên vài bụi hoa nho nhỏ, mà bọn con nít chúng tôi kêu là những cái „củ cải“, đã bị hoàn toàn phá vỡ. Những cái cần trục vĩ đại, giàn sắt thép, đống gạch đá ngổn ngang, nhân công xây dựng chạy tứ tung, những người gác công trường xua tay cấm chụp hình…họ đang hối hả xây trên nền vườn bông củ cải một trung tâm thương mại đồ sộ, nguy nga, lộng lẫy.

Bây giờ công trình xây dựng tòa nhà cao tầng đó đã xong, hai cái nóc song song có hình dáng cong cong như hai cái mũ vua thời xưa, vườn bông củ cải đã trở thành một góc vườn hoa, nhiều lá xanh, nhiều hoa dưới chân một tòa nhà rất hiện đại sang trọng.

Tôi cũng ngậm ngùi nhớ rạp chớp bóng Casino ở góc Lê Lợi-Pasteur, năm trước còn treo bảng quảng cáo vẽ Alain Delon, Jean Paul Belmondo, Catherine Deneuve…, năm nay đã bị san thành bình địa. Họ cũng lại đang xây cất một trung tâm gì đó, phải mới hơn, phải sang trọng hơn. Thành phố Sài Gòn nhiều thay đổi lắm, càng ngày càng xa hoa tột bực, hơn cả những khu phố cổ kính sang trọng của Paris. Sài Gòn năm 2009 trở thành trung tâm của người giầu mới, mới giầu, của tỷ tỷ đại gia, tiền vô ra như nước.

Người từ phương xa về thăm như tôi tất phải ngạc nhiên trước sự đổi thay đó. Về Sài Gòn bây giờ, tôi không biết làm gì để kiếm ăn, thấy mình sao kém cỏi, bất tài vô dụng, học kinh tế mà không biết làm giàu như người ta.

Thời bao cấp, khi „Việt kiều“ về thăm nhà, gia đình, bạn bè, hàng xóm mừng rơn khi được tặng một chai dầu xanh Thái Lan, một khúc vải may áo, một khúc lụa đen may quần. Thời này, hàng hóa đầy ắp, không thiếu một thứ gì, rẻ hơn Âu châu khá nhiều. Bây giờ, người Sài Gòn lại giầu có hơn mình cả trăm cả ngàn lần, lại còn trẻ. Muốn tặng ai món quà cũng ngại quà mình đem về không đáng là bao. Người giàu thành phố bây giờ thì cũng như người giàu ngày xưa, thích khoe cái sang trọng, cái giầu có của mình, ồn ào, hợm hĩnh. Khoe nhà, khoe xe, khoe người, khoe của. Một ống kem bôi mặt, gọi là hàng „xách tay“ đem về, bán 150 đô la Mỹ mà cũng có người mua. Những con đường biệt thự kín cổng cao tường bây giờ thì cũng kín cổng cao tường như xưa, nhưng cổng và tường rào đẹp hơn, bằng đá cẩm thạch hay đồng thau, sắt thép uốn nắn rất mỹ thuật.

Một cô em kể tôi nghe, chị biết hông, lương em tính ra là tám chục ngàn (đồng) một ngày, lương tháng là hai triệu tư, hơn 100 đô, vậy là cao rồi đó chị, em chỉ dám ăn hết khoảng ba chục ngàn một ngày, cơm phần thì mười ngàn một phần, hay một tô hủ tíu, một đĩa cơm tấm, nước trà miễn phí, năm chục còn lại là tiền xăng dầu đi làm, thuê nhà, điện thoại, điện nước, quần áo, thuốc men…

Cô em nói, kiếm ra một triệu một tháng cũng sống được chị à. Các công việc hầu bàn, đầu bếp, lễ tân, gác cửa, công nhân…kiếm từ một triệu đến hai triệu rưỡi một tháng. Nếu giả dụ như hai vợ chồng cùng làm việc kiếm sống, mỗi tháng có chung khoảng năm triệu thì sống đầy đủ cho một gia đình nhỏ, vợ chồng và một đứa con. Lái xe Taxi, lái xe du lịch kiếm nhiều tiền lắm chị ạ, một anh tài kiếm từ năm triệu đến mười triệu, có khi nhiều hơn nữa, một tháng. Giá chợ quê, chợ hẻm, chợ ven đô, chợ ven đường…rẻ hơn giá bán ở chợ Bến Thành nhiều.

Ôi, cái chợ Bến Thành, cái chợ tôi đi (xem) mỗi ngày, vì tôi rất thích đi chợ, dù hễ ra vô chợ thường phải coi chừng móc túi, cướp giật, len lỏi qua các hàng chật khít hai bên, nhìn hàng nhìn người không chán mắt, ngửi mùi cà phê, mùi dưa chua, tôm khô, củ kiệu, mùi thịt, mùi cá, mùi gạo, mùi hoa…So với giá của những nhà hàng trong thành phố đòi từ một trăm đến ba trăm ngàn đồng cho một món ăn thì quả thật là họ đã căng cái cung quá mức chịu đựng của du khách.

Người thành phố có nhiều phong cách sống, kiếm một triệu xài theo kiểu một triệu, kiếm một trăm triệu xài theo kiểu một trăm triệu.

Mà thành phố bây giờ giầu có thật, rất nhiều đổi thay, nhà cửa kiến trúc mới mọc lên tứ tung, cái mới cao hơn cái mơi mới, cái mơi mới cao hơn cái cũ, lổn nhổn, cái này sang trọng hơn cái kia. Nhiều đường xá mới, cầu mới, hầm đường mới. Đứng trên một tầng lầu cao nhìn xuống các nóc nhà thành phố tôi lại càng thấy rõ hơn sự đổi thay của thời gian. Những nóc nhà ngói đỏ khi xưa mất dần, thay thế bằng những ngôi nhà cao tầng, vuông vắn như một cái hộp. Cây xanh thì như lùn đi, khuất dưới bóng những dãy nhà cao. Nhiều nơi đang xây cất, các xuất thợ thay nhau làm ngày làm đêm không ngơi nghỉ, họ chỉ cần vài tháng, chưa đến một năm là đã xây xong một nhà cao tầng. Trời nắng, nóng, bê tông xi măng mau khô.

Tôi thẫn thờ khi thấy lại mất thêm đi một chỗ ngồi mát mẻ ấm cúng khi xưa. Chồng tôi thích vào đây uống một ly cà phê đá mỗi buổi chiều, nghe ca sĩ hát êm êm nhè nhẹ, đệm bởi vài ba nhạc sĩ, không khí thân quen như về „nhà“. Cái quán cà phê cũ ấy, một góc của khách sạn Rex, đã biến mất, thay vào đó là một dãy các cửa hàng cực kỳ xa hoa mang các nhãn hiệu Âu châu, mà chỉ có dân thượng tầng xã hội ở Âu châu mới „rờ“ đến. Khách sạn Rex mất hẳn cái duyên xưa, trở thành một thứ đền đài ngủ trọ rất „de luxe“ lạnh lùng khinh khỉnh. Nhưng chẳng sao, khách có tiền thì vào cũng cứ vào.

Ban đêm mới thấy hết cái giầu có, cái lộng lẫy của thành phố khi thành phố lên đèn. Cúp điện ở đâu thì cứ cúp, nhưng các ngôi nhà đẹp, nhà cao tầng đều rất đẹp ánh đèn màu, như một sân khấu, nhìn không chán mắt. Thành phố là một biển đèn xanh đỏ vàng trắng, cộng thêm với đèn vàng đèn đỏ của các luồng xe đang chạy nhấp nháy di động, rất sáng, rất lộng lẫy, tôi đứng say mê ngắm nhìn luồng đèn xe như ngắm dòng thời gian đang trôi qua.

Dòng xe chạy suốt đêm, không có đêm cũng không có ngày. Đêm không tối nên ngày mới lên từ lúc nào cũng không cảm thấy, chợt bừng ánh nắng bình minh thật sớm. Nắng ấm ban mai thường đem lại cho con người một cảm giác yên bình, gây niềm tin tưởng, hy vọng.

Người thành phố bàn tán rất nhiều về thảm họa đang xảy ra ở Nhật, đa số đều có tình cảm với những mất mát, những chia cắt vĩnh viễn đau thương, những hậu quả nặng nề lâu dài mà người Nhật đang gánh chịu, và thán phục tinh thần chịu đựng, tự trọng, kỷ luật, chia xẻ của người Nhật, họ tự nguyện quyên góp tiền bạc để giúp cho dân Nhật, làm cho người Nhật cũng phải ngạc nhiên, vì xưa nay họ nghĩ, chỉ có người Nhật mới giúp người Việt.

Cơn sóng thần ở Nhật „quét“ thêm một đợt sóng thần trong suy nghĩ của những người không trực tiếp bị thảm họa thiên tai: suy nghĩ về niềm tin và hy vọng, suy nghĩ về cái bất lực của con người trước sức mạnh của thiên nhiên, cái bất lực của một cơ sở kinh tế tư nhân, cái bất lực của một chính quyền, cái phù du của vật chất, cái quý của mạng sống, cái quý của tình người và cái quý của nhân phẩm, sau cùng hết, cái quý của sức dân.

Chịu đựng, đó là một tính cách chung của các dân tộc châu Á. Chịu đựng đi đôi với hy vọng. Chịu đựng ngày hôm nay, đồng thời hy vọng ngày mai sẽ khá hơn, tươi đẹp hơn. Người Việt Nam mình cũng biết chịu đựng, một sự nhịn là chín sự lành, chịu đựng để có hòa bình, để có một cuộc sống tương đối yên bình, dành thì giờ sức lực lo cho một chút hạnh phúc của mình, lo nhà, lo chồng, lo con, lo cha mẹ…dành thì giờ tâm sức để xây dựng một công việc có ích lợi chung, dù nhỏ nhoi, dù âm thầm trầm lặng… Tùy từng hoàn cảnh, không phải ai sinh ra cũng trở thành anh hùng, „sĩ phu“, chịu đựng vì thế không chỉ có một nghĩa là ích kỷ và hèn nhát, vì nhà yên thì nước yên, nước yên thì nhà yên.

Như dân Nhật, đã bắt đầu thu dọn, xây dựng lại tổ ấm còn sót lại của họ trên mọi tình huống đổ nát, với chính sức lực của mình trước hết, đó cũng là bắt đầu xây dựng lại quê hương của họ, đem lại yên bình, ổn định cho xã hội.

Ngồi trên xe Taxi, anh tài hỏi, quê cô ở đâu ? Mèn ui, tui là dân Sè Goòng đó anh, quê tui đây nè.

Đi đâu, ai cũng hỏi tôi, quê cô ở đâu, ở đâu cũng là quê tôi hết đó. Cảm giác „quê tôi“ hiện rõ khi tôi đứng giữa dòng sông Quây Sơn của thác Bản Giốc, khi tôi đứng dưới chân cột cờ Lũng Cú ngắm nhìn vùng núi rừng cực Bắc với các ruộng nương bản làng nghèo nàn chân chất mộc mạc, khi tôi cũng các bạn Huế ngồi gặm nhấm bánh mì với rượu vang đỏ trong nhà nghỉ chân ở lăng vua Gia Long, khi chân tôi chạm lên làn cát mịn của bãi biển Sa Huỳnh còn thiên nhiên chưa bị dấu chân du khách đi ngang đi dọc, khi tôi về thành phố, đứng giữa lòng thành phố thấy mình lạc lõng, phân vân, bâng khuâng, đây cũng là quê tôi ư.

Chợt một lúc nào đó tôi nhìn thành phố của tôi, nơi tôi sinh ra và lớn lên, nơi tôi xách hai cái va li đi học, như một người thất tình ê chề. Phi trường Tân Sơn Nhất khi xưa còn khá nhà quê, còn cả đàn gà cục tác trên hai mảnh cỏ khô hai bên phi đạo, hành khách đi bộ lục tục lên máy bay, người đi đưa tiễn đứng trong nhà hành khách nhìn theo, nhướng gót chân lên cao, vẫy vẫy rối rít. Tôi đi rồi, má tôi viết thư kể, khi cánh cửa máy bay đóng lại, cầu thang được rút đi, thì…ba tôi té xỉu. Má tôi lại không khóc vì coi như là đã mất đứa con gái. Người ta nói, ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng, mà con gái như tôi thì bỏ cha bỏ mẹ ra đi. Nhưng cũng phải nhắc lại, lúc ấy nào có nghĩ đi là đi luôn đâu ? sinh viên đi học cũng nghĩ là mình chỉ đi học vài năm rồi lại về làm việc ở quê hương xứ sở, cuộc đời có ai học được chữ ngờ, người tính không bằng trời tính. (Hay ngược lại, trời tính không bằng người tính ?)

Chưa khi nào tôi thấy Sài Gòn sôi sục như năm nay, như một anh/chị nhà giàu mới, rất xa hoa lộng lẫy, rất hiện đại. Sài Gòn xài sang, sang hơn cả thủ đô Paris, khách „Tây“ lé mắt. Đại lộ Champs Élysées của kinh đô ánh sáng Paris mùa Giáng sinh còn thua xa các con đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Đồng Khởi (Tự Do cũ) của thành phố Sài Gòn, không nói chi đến các khách sạn lớn trong trung tâm cũng treo đèn kết hoa rất xôm, rất đẹp mắt.

Khi máy bay uốn lượn trên nền trời, đảo một vòng cho đúng vị trí để cất cánh, hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất vào ban đêm thì khu vực thành phố Sài Gòn là một đảo ánh sáng rất lung linh lộng lẫy. Những trục đường chính to, rộng hơn hẳn những con đường khác sáng lóa trong đêm đen như những con rắn ngoằn nghèo. Hà Nội không sáng bằng. Paris cũng không sáng bằng Sài Gòn.

Bắt đầu từ hôm 20.12. tôi đã thấy nhiều nhân công thầm lặng, nhanh nhẹn, cặm cụi, leo thang, leo lên cây, bắt điện, giăng đèn, kết hoa. Xe cộ cứ chạy, người cứ qua, ít ai để ý đến công việc của họ, cũng không thấy những giây điện với hàng triệu bóng đèn đủ màu nhỏ li ti, vì nắng Sài Gòn cuối năm vẫn quá sáng và quá nóng. Họ đem những cuộn vải sa teng bóng dày xụ, mầu đỏ thẫm và màu xanh lục thẫm, màu của thành phố Sài Gòn, quấn chung quanh các thân cây, làm cho đường phố trở nên ấm cúng hơn, sang trọng hơn.

Buổi sáng đông xe người đi làm, buổi trưa thì nắng gắt và thưa vắng, chỉ có vài du khách lầm lì như tôi mới rảo quanh chụp hình quang cảnh. Chiều xuống, cũng chưa thấy gì. Người Sài Gòn ăn cơm sớm, buổi trưa mới 11 rưỡi đã ăn, buổi chiều mới 5 rưỡi đã ăn (vì thế người Sài Gòn mới có thói quen đi „ăn đêm“, vừa đói bụng vừa đói tình!). Nhưng khi mặt trời vừa tắt nắng, màn đêm vừa xuống, thì hàng triệu ánh đèn sáng lên. Ai nấy đều „Ồ ! Đẹp quá!“, và lao vào đường phố ngắm đèn như những con thiêu thân.

Sài Gòn 2009 là một Sài Gòn Superlativ, một cái nồi nước sôi sục sục! Người, xe, đèn, hoa, cờ, nhanh, rầm rập, bụi bặm, chóng mặt, xô bồ, ồn ào, xa hoa cực độ, kiếm tiền rất dễ (người ta nói thế), rất phô trương cái giàu mới, mạnh ai nấy sống.

Kẻ an phận thì chấp nhận có nhà giàu nhà nghèo, người không an phận thì trách móc một xã hội có phân biệt. Dân lao động nói rằng từ hai ba tháng nay kiếm ăn dễ thở hơn, nhưng nghèo thì vẫn nghèo. Mới đây, những người lao động dùng xe ba gác bằng tay chân hay có động cơ đang lúng túng vì xe ba gác sẽ bị cấm, họ phải đổi nghề, nhưng đổi bằng cách nào, làm gì, tiền đâu ra ? Nói thì dễ, làm thì khó.

Phần tôi thì thắc mắc, bởi lẽ bản thân mình – overdated – (quá đát) không còn có thể bon chen kiếm cơm nơi đây được, đi đâu cũng thấy người ăn uống, hàng quán đông đúc, mọi người kiếm tiền đâu ra mà ăn tiêu ? ai cũng có điện thoại di động, ai cũng có xe hai bánh, ai cũng ăn mặc thời trang sạch sẽ lịch sự, phụ nữ rất ăn diện, đeo nhiều trang sức, đi giày cao gót nhọn cả tấc, ngoại hình, cách ăn mặc hơn hẳn Hà Nội.

Du khách nước ngoài dụi mắt nhìn người Sài Gòn ăn Noël. Cả Sài Gòn đón ngày Chúa giáng sinh như thể cả Sài Gòn là con chiên của Chúa. Noël ở Âu châu lặng lẽ, chỉ có bữa ăn trong gia đình và thánh lễ nửa đêm, người ngoại đạo cũng lặng lẽ bình thường. Theo thông lệ, chỉ có vua, chúa, nữ hoàng trị vì, mới chúc mừng Giáng sinh cho dân chúng. Còn các vị nguyên thủ quốc gia chờ đến ngày cuối năm mới đọc một bài «đít cua» (diễn văn) chúc mừng năm mới cho dân mình.

Cao điểm kẹt xe kéo dài từ năm, sáu giờ cho đến quá nửa đêm. Xe hơi xịn, BMW, Mercedes…và các nhãn hiệu khác, chen lấn với người đi bộ, xe hai bánh và xe Taxi. Chật cứng. Cả trên mặt đường lẫn trên vỉa hè. Chung quanh chợ Bến Thành, phần thì có chợ đêm, phía bùng binh thì có sân khấu ca diễn âm nhạc miễn phí ngoài trời cực kì rộng lớn, nên người và xe đứng, đi chen chúc lộn xộn vòng trong vòng ngoài, húp còi điếc tai, không thể nào tả nổi.

Tôi đi bộ sát lề đường, vì không có chỗ trên lề đường để đi, mà bánh xe honda của người ta cứ thúc từng bước vào bắp chân. Mùi bụi và mùi khói xe thốc vào mũi, làm mũi rát bỏng, tôi bị chảy máu mũi liên tục từ cả tuần nay, thậm chí buổi tối khạc cả ra cục máu đỏ từ trong cổ họng. Độ ô nhiễm không khí lên cao không thể tưởng.

Các trận đá banh bán kết và chung kết của giải Seagames 25 làm cho Sài Gòn còn sôi sục hơn. Những người trẻ, trên hàng vạn xe hai bánh, vác cờ, vác trống, vác còi, vác máy phát nhạc, chạy rầm rập ầm ĩ trên mọi đường phố, họ la hét như không hề biết mệt. Cứ đến mỗi ngã tư thì họ dừng lại, túm tụm la hò ở đó, làm cho mọi tuyến đường đều tắc nghẽn. Người đi bộ sợ xanh mặt, mau mau về nhà, Taxi không có, tài xế Taxi sợ bị đập phá xe, cướp xe, ngừng hoạt động. Cũng „may“ mà Việt Nam thua Mã Lai trận đá banh chung kết, chứ không thì Sài Gòn…tan hoang. Công an giao thông, bình thường và hàng ngày bắn tốc độ thì đã về nhà nghỉ khỏe, trước một cơn lốc vũ bão của tuổi trẻ như thế, họ có muốn bắn tốc độ cũng không xong. Từ Cà Mau về, chưa tới Khánh Hội đã kẹt xe rồi, người ở chung quanh thành phố ùa vào trung tâm ăn Noël. Nhưng Seagames, Giáng sinh, Tết Tây sẽ còn thua Tết Ta. Khi các chợ hoa bắt đầu hoạt động thì sự kẹt xe ở Sài Gòn sẽ vượt xa mọi sức tưởng tượng.

Cái khác biệt giữa Hà Nội, Huế và Sài Gòn rất rõ rệt, không ai là không nhận thấy. Hà Nội cũng đông người, đông xe, phình bự, bụi bặm, rác rưởi, rất nhiều gánh hàng rong rảo trên khắp đường phố, nhưng cũng còn nhiều nét cổ kính, thanh lịch, lễ phép của „Kẻ chợ“ thời xưa, còn hơi hướng „nhà quê“, thân thiện làm sao ấy, qua cách ăn mặc, cách nói chuyện và giọng Hà Lội ngọng ngọng dễ thương. Huế vẫn giữ vẻ trầm mặc cố hữu, cái gì cũng chầm chậm, nhe nhẹ, thời gian như đọng lại ở Huế, còn không gian cũng không có nhiều đổi thay. Huế dễ chịu vì ít người, ít xe, người dân cố đô Huế nhẹ nhàng thầm kín.

Sài Gòn năm 2012 còn sang hơn, đẹp hơn những năm trước. Đập vào mắt mọi người là một kiến trúc theo kiểu belle époque của Pháp, quét vôi mầu trắng ngà, rất sang trọng, rất đẹp, mặt tiền làm toàn bằng đá hoa cương, đá cẩm thạch, đồng, kính màu…mọc lên trong một thời gian kỷ lục trên nền của khu thương xá Eden/nhà hàng Givral cũ. Tòa nhà này, một món nữ trang mới của thành phố, đứng hòa hợp với nhà hát, với tòa thị chánh cũ, với khách sạn Continental tạo thành một góc đẹp, sang trọng. Tòa nhà Vincom cao xây trên nền của vườn bông củ cải ở góc Tự Do (cũ)/Lê Thánh Tôn ló lên với tầng cuối cùng kiến trúc như hai cái mũ vua. Khách sạn Rex xây lại theo hơi hướng tân kỳ kiểu Mỹ, nửa cũ nửa mới, đã mất hẳn đi sự hấp dẫn của kiến trúc cũ.

Cái góc của Rex, trước kia là một quán ăn buổi sáng bán điểm tâm, chiều tối có ca nhạc, nhộn nhịp vui tươi, thì nay bị xây bít bùng thành những cửa tiệm mà suốt ngày không có ai vào, chỉ có những người gác cửa mặc com lê có gi lê toàn đen, còn sang trọng hơn là khách hàng, đứng bên trong dán mũi vào cửa kính nhìn ra ngoài đường phố, như một người tù đứng nhìn cuộc đời trôi qua.

Chúng tôi có lấy can đảm vào xem thử những gian hàng trong những lâu đài mua sắm mới này và thực tình, không mua được gì cả, toàn là những loại hàng quá xa xỉ, quá « de luxe » (ở nhà dân chúng đọc là « đì lắc »), quá đắt tiền mà lại không cần thiết, có cũng được, không có cũng không sao.

Cái góc Sài Gòn của tuổi thơ tôi cho đến cuối những năm 1960 đã thay đổi rất nhiều. Kỷ niệm xưa bấu víu vào vài căn nhà cũ còn lại của thời ấy. Tình cảm yêu mến gắn bó với quê hương nhiều khi đơn giản lắm. Nó chỉ là cái cảm giác, cái nhận thức, có một nơi chốn để về và có ít nhất một người nào đó vui khi thấy mình về.

Thành phố Hồ Chí Minh năm nay có 7.521,100 dân, trên một diện tích là 2.095,6 km², tức là 3.589 người chen chúc nhau trên một cây số vuông. Hà Nội có 6.699.600 dân cư, diện tích 3.328,9 km², mật độ dân số trung bình là 2.013 người/km². Thừa Thiên-Huế có chung 1.103.100 dân, diện tích là 5.033,2 km², mật độ dân số trung bình là 219 người/km².

Cả nước có 87.840.000 dân, diện tích là 330.957,6 km², mật độ trung bình là 265 người/km². Nhìn chung, dân số dân cư rải đều trên các khu vực lớn tính theo đồng bằng sông Hồng có gần 20 triệu dân (19.999.300), miền Trung du và cực Bắc có 11.290.500 dân, miền Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung có 19.046,5 dân, Tây Nguyên có 5.282.000 dân, Đông Nam Bộ có 14.890.800 dân và đồng bằng sông Cửu Long có 17.330.00 dân. (Thống kê 2011 của Tổng cục thống kê Hà Nội)

So với Paris, thủ đô của nước Pháp, dân số của 20 quận nội thành là 2.257.981 dân, diện tích nội thành là 105,4 km², nên mật độ dân cư rất cao 21.196,4 người/km². Khu vực gọi là vùng Ile-de-France, bao gồm 17 đơn vị hành chánh trong đó thành phố Paris, có dân số là 11.786.234 dân, diện tích là 12.012 km², mật độ trung bình là 988 người/km². (Thống kê INSEE, ngày 01.01.2010)

So với Berlin, thủ đô của nước Cộng Hòa Liên Bang Đức, dân số là 3.501.872 người, diện tích là 892 km², mật độ 3.945 người/km². (Thống kê của Amt für Statistik Berlin, 2011)

Về kinh tế quốc dân thì Việt Nam có tổng sản phẩm trong nước sơ khởi năm 2011 là 2.535.008 tỷ đồng, tương đương khoảng 125 tỷ đô la Mỹ (1$=20.000 vnd) hay khoảng 94 tỷ euro (1€=27.000 vnd). Tính trên đầu người thì tương đương với 1.375 $/người, tức là khoảng 28.860.000 đồng/người. Mức độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm theo đà khủng hoảng kinh tế thế giới từ năm 2005 (8,44%) đến cuối năm 2011 là còn đạt được 5,89%. (Thống kê 2011 của Tổng cục thống kê Hà Nội)

Dân số nước Pháp hiện nay có 65,35 triệu người (thống kê INSEE 01.01.2012), dân số nước Đức có 81.843.743 (thống kê Statistisches Bundesamt 01.01.2011).

So với tổng sản lượng quốc dân của Pháp (2.033,7 tỷ euros) và Đức (2.652,2 tỷ euros), và tính theo đầu người tại Pháp là 27,550€/người, tại Đức là 31.320€/người (Thống kê Eurostat 2012), thì phải thấy đất nước và người dân Việt Nam còn nhiều khả năng phát triển kinh tế, nếu khắc phục được những khó khăn đặc biệt của xã hội mình.

Mức lương trung bình của đàn ông Pháp là 20.345€/năm, của phụ nữ Pháp là 17.156€/năm. Thống kê của Đức thì cho biết mức lương trung bình trong năm 2009 là 27.648€/người, nhưng lương của phụ nữ thì thấp hơn lương của nam giới trung bình là 23%. Các con số này là lương chưa đóng thuế thu nhập và các bảo hiểm xã hội, tỷ lệ thu nhập chỉ còn lại khoảng 50%-55% con số lương trung bình sau khi đã trừ thuế và bảo hiểm.

Trong vòng thân quen của tôi, có những người chỉ kiếm được trên dưới 10.000€/năm chưa trừ thuế và bảo hiểm, trong khi phải trả tiền thuê nhà 600€/tháng, nên sống rất chật vật, túng thiếu.

Con số là con số, và trên thống kê thì người nghèo cũng giầu bằng người giầu, chỉ nói lên một mức độ chung của cả xã hội.

Không có con số nào đo được cái tâm, cái phúc của con người, mà chúng tôi thấy, chưa chắc người dân Pháp, người dân Đức cảm thấy hạnh phúc hơn người Việt, họ cũng có những nỗi lo, nỗi khổ, nỗi bức xúc của họ với xã hội đang chia rẽ, phân hóa thành những đơn vị cá nhân. MTT

Bản nhạc « Khi người yêu tôi khóc » của Trần Thiện Thanh qua tiếng hát của Sĩ Phú:

COUV_TLCDDM_FINAL_IMPR_WEB

Commentaires fermés